Giảng luậnPhật họcTiêu điểm

HT Thích Minh Châu: Sung sướng thay, được một bậc Thầy như Đức Phật

Năm 1967, tôi viếng thăm Đại học Yale và được một giáo sư Mỹ đang nghiên cứu Tây tạng học đón tiếp tôi với bộ mặt thật hớn hở, sung sướng và một câu đón chào mà tôi không bao giquên: «Tôi sung sướng đón chào thầy, vì tôi chắc rằng thầy đến đã không phải để cái hóa tôi theo đạo của thầy». Tôi chỉ mỉm cười, không đáp lại, nhưng chính khi ấy, tôi cảm giác được «tất cả sự sung sướng» của tôi khi đó «được một bậc thầy như Đức Phật». Cái cảm giác sảng khoái, «nhẹ nhỏm», hay dùng cho đúng danh từ Phật học hơn là Passaddhi (khinh an) ấy của ông bạn giáo sư Mỹ, khi cảm thấy mình không bị đe dọa bị giáo hóa, cũng là cảm giác chung cho tất cả những ai được đối thoại với đức Phật khi Ngài còn sống hay khi trực tiếp hoặc gián tiếp được tiếp nhận giáo lý của Ngài. Được gặp đức Phật đối thoại với Ngài, được đọc những lời Ngài dạy hay chiêm ngưỡng hình bóng giải thoát của Ngài, chúng ta đều linh cảm khả năng giáo hóa thần diệu của Ngài. Nhưng điểm đặc biệt là chúng ta không bị đóng vai trò thụ động, chúng ta không cảm thấy bị giáo hóa, bị chinh phục, vì đức Như Lai chỉ là người chỉ đường (Tathagato akkhataro), chúng ta là người đi trên con đường ấy. Đức Như Lai chỉ là vị giới thiệu phương pháp suy tư chín chắn (yo manasikaro.), chính chúng ta là người suy tư và quyết định.

Câu chuyện sau đây chứng tỏ đức Phật không bao giờ gợi cho chúng ta những tình cảm giao động làm chi phối sự say tự chín chắn của chúng ta. Ngài khuyên chúng ta hãy bình tính sáng suốt, như thật (yathabhutam) xác nhận sự việc rồi có những thái độ thích nghi.

Khi được các vị Tỳ kheo hỏi, vì sao ngoại đạo Suppiyo lại dùng vô số phương tiện, phỉ báng Phật, Pháp, Tăng còn thanh niên Brahmadatta trái lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, Pháp và Tăng. Đức Phật trả lời, không làm ai sợ hãi,hoảng hốt, không làm ai cuồng sướng tận mây xanh, Ngài kính trọng «Con Người» trong các vị Tỳ kheo, khuyên các vị này nhận xét bình tĩnh vô tư, dựa trên những sự kiện xác đáng để bác bỏ hay tán thánh: «Này các Tỳ kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỳ kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hi báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, cả nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng? – «Bạch Thế Tôn, không thể được!»

Này các Tỳ kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: «Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này điểm này không chánh xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xẩy ra giữa chúng tôi.»

– Này các Tỳ kheo, nếu có người tán thán Ta, tán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, khoái trá, tâm Không nên thích thú. Này các Tỳ kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, khoái trả, và thích thú, thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỳ kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: «Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chánh xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xẩy ra giữa chúng tôi.»[1]

Khi sắp nhập Niết bàn, một lần nữa đức Phật dặn dò các vị Tỳ kheo cần phải thận trọng, chớ có vội tin những lời dầu được xem là tự Phật nói, hay tự các vị Thượng tọa đa văn đa tri nói.

«Này các Tỳ kheo, có thể có vị Tỳ kheo nói: Này hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng đức Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo sư». Này các Tỳ kheo, các ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của vị Tỳ kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các người có thể kết luận: «Chắc chắn những lời này không phải là lời đức Thế Tôn, và vị Tỳ kheo ấy đã thọ giáo sai lầm». Và này các Tỳ kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp bởi Kinh, tương ứng bởi Luật, thời các người có thể kết luận: «Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của đức Thế Tôn và vị Tỳ kheo ấy đã tho giáo chơn chánh».[2] Chúng ta phải thận trọng, không hủy báng, không tán thán học hỏi từng chữ, từng câu, rồi đem đối chiếu với Kinh, đối chiếu với Luật. Có phù hợp, mới chấp nhận, không phù hợp thời bác bỏ. Thái độ suy tư chín chắn, phối hợp thích nghi, thật là một phương pháp hữu hiệu và thực tiễn, khi phải đối trị với những phức tạp tuyên truyền, xuyên tạc, lợi dụng hiện tại. Con người mở miệng là đạo pháp, là dân tộc ở đầu môi đầu lưỡi. Hãy đem phối hợp vào Kinh, phối kiểm với Luật rồi mới thấy chân giá trị của những lời nói thời thượng ấy.

– Các Hoàng tử Kalamas phân vân đến hỏi đức Phật: «Bạch đức Thế Tôn, có nhiều ẩn sĩ và Bà la môn đến viếng Kesapulla. Họ chỉ giảng giải và làm sáng tỏ những lý thuyết của chính họ, cả khinh miệt, lên án, bài xích những lý thuyết của những người khác. Rồi có những người ẩn sĩ và Bà la môn khác, và những người này cũng thế, chỉ giảng giải và làm sáng tỏ những lý thuyết của riêng họ, khinh miệt, lên án và phỉ báng những lý thuyết của những người khác. Nhưng bạch Thế Tôn, về phần chúng con, chúng con luôn luôn hoài nghi và hoang mang không biết vị nào trong số những nhà ẩn sĩ và Bà la môn khả kính ấy đã nói sự thật và vị nào nói sai quấy».[3]

Đức Phật trả lời, đánh dấu một thái độ suy tư, trầm lặng trong sáng như hồ nước trong của những tâm hồn sáng suốt. «Phải đấy, hỡi những người Kalama, các ngươi đã hoài nghi, hoang mang là phải; các ngươi nghi ngờ những điều đáng nghi ngờ, Này các Kalama, chớ có tin theo vì được nghe lập lại nhiều lần; chớ có tin vì truyền thống, vì tin đồn, vì đã được ghi trong Thánh kinh. Chớ có tin vì là lời phỏng đoán, vì là một định lý, vì là lời ngụy biện! Chớ có tin vì tự mình thích tin như thế, vi dựa vào uy tín của người khác, hay bởi ý nghĩ: «Đây là thầy của ta». Này các người Kalama, khi nào các ngươi biết rằng: «những việc này là xấu, những việc này là bất thiện, những việc này bị người có trí chỉ trích, những việc này nếu tuân theo và thực hiện sẽ mang lại tai hại và xấu xa, thì các ngươi hãy từ bỏ chúng… Này các người Kalama, khi nào các người biết rằng «những việc này là tốt, những việc này là thiện, những việc này được người có trí tán thán; những việc này nếu tuân theo và thực hành sẽ mang lại lợi ích và tốt đẹp, thì các ngươi hãy chấp nhận chúng».[4] Chúng ta thấy rõ, đức Phật bao gicũng kính trọng sự suy tư, nhận xét và quyết định của chúng ta. Ngài không muốn chúng ta nhắm mắt tuân theo Ngài, vâng theo sự phán xét độc đoán của Ngài. Ngài không muốn chúng ta đóng vai trò thụ động, nhắm mắt tin theo truyền thống, tin đồn hoặc dựa vào uy tín cá nhân hay của thầy mình để khỏi phải suy tư, quyết đoán. Ngài đòi hỏi ở những Phật tử, một sự suy tư chín chắn, một ý thức kinh nghiệm bản thân, rồi mới đánh giá thiện ác sự việc, tiếp đến mới có thái độ tuân theo hay từ bỏ. Chúng ta sung sướng vì đức Phật trọng chúng ta, vì đức Phật tin ở khả năng suy tư chín chắn của chúng ta, và chinh thái độ rất «Người» của đức Phật làm chúng ta cảm thấy «Con Người» trong chúng ta có những tiềm năng nhận xét khá chính xác, khỏi đóng vai trò nô lệ cho ai cả.

Viện Đại học Vạn hạnh từ trước đến nay đã và đang cố gắng xây dựng một nền giáo dục dựa trên tinh thần giáo dục Đạo Phật, trong ấy một không khí thoải mái, nhẹ nhàng rất được chú trọng, trong ấy mọi thành phần Đại học, từ các vị trong Hội đồng Quản trị của Viện, các vị Giáo sư cho đến các Nhân viên, Sinh viên mỗi người tự ý thức quyền hạn của mình, trách nhiệm của mình, và tự mình từ tốn làm trọn nhiệm vụ của mình. Ở nơi đây, không có cuồng tín tôn giáo, không có phiền toái lễ nghi, không có đạo đức nặng nề. Ở nơi đây không ai ra lệnh cho ai, không ai để ai ra lệnh cho mình, không ai bảo ai, không ai để người khác sai bảo mình, không ai xúi dục ai, không ai để cho người khác xúi dục mình, mỗi thành phần giáo sư, nhân viên, sinh viên, mỗi người ý thức trách nhiệm của mình, chín chắn suy tư, chín chắn kinh nghiệm, rồi tự mình làm trọn trách nhiệm của mình đối với Viện. Viện Đại học Vạn Hạnh là một Viện nghèo nhất Việt nam (ngân sách Đại học Huế với hơn 3.000 sinh viên lên đến 224 triệu. Vạn Hạnh với gần 4.000 sinh viên chỉ nhận được 12 triệu trợ cấp của Chính phủ, khoảng 16 triệu học phí của sinh viên), nên không lấy tiền của mua chuộc được ai. Viện Đại học Vạn Hạnh làm việc thuần túy giáo dục nên không lấy chức vụ nghị sĩ, dân biểu quyến rũ được ai. Đại học Vạn Hạnh chỉ quy tụ những nhà giáo dục, những người phục vụ giáo dục và giáo dục ở nơi đây, dựa trên nguyên tắc «Tự giác, Tự nghiệm và Tự nguyện», đúng như lời Phật dạy cho các Hoàng tử Kalama. Tự giác là chúng ta tự ý thức trách nhiệm của chúng ta đối với nền giáo dục Vạn Hạnh. Tự nghiệm là tự mình suy tư, tự mình kinh nghiệm để đánh giá trách nhiệm của minh. Tự nguyện là tự mình phát nguyện làm tròn trách nhiệm mà mình đã tự ý thức được».

Tỳ kheo THÍCH MINH CHÂU

___________

[1] Trường Bộ Kinh I, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Saigon 1965, trang 2,3
[2] Con Đường Thoát Khổ W. Rahula. Thích Nữ Trí Hải dịch. Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Saigon 1967 trang 17.
[3] Những ngày từ những lời dạy cuối cùng của việc Phật.
    Thích Minh Châu dịch. Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Saigon 1966 trang 81-82
[4] Kinh Kalama, tr. 6-8

Hiển thị thêm
Back to top button