HT Thích Phước An: Gió Bấc cuối năm trong thơ Đỗ Hồng Ngọc

Trong một lá thư viết cách đây hơn một năm (2021) gởi cho bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, Giáo sư Cao Huy Thuần, (một tên tuổi lớn trên diễn đàn văn học và tư tưởng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay). Mở đầu lá thư, giáo sư đã nhắc đến Mark Epstein, là một bác sĩ nổi tiếng, đã từng cộng tác trong ngành chuyên môn về phân tâm học với Freud với Jung. Từ môi trường này, Epstein đã bắt gặp được tư tưởng Phật giáo, ông say mê Phật giáo đến độ phải lặn lội qua nước Tây Tạng để học Phật. Và rồi cuối cùng ông đã nổi tiếng cả hai, nghĩa là vừa là một bác sĩ giỏi lại vừa là một nhà Phật học uyên thâm, và Giáo sư Cao Huy Thuần đã cho rằng, việc đó chẳng có gì lạ, vì theo lời ông “Đức Phật của chúng ta đã chẳng phải là một thầy thuốc đó hay sao?”

Nhưng vì sao Đức Phật lại được tôn xưng là Y Vương? Và Ngài đã có phương thuốc gì hay để chữa bệnh cho chúng sanh mà một thầy thuốc lỗi lạc như Epstein phải rời thế giới văn minh tiến bộ của Tây Phương để lặn lội đến Tây Tạng, một quốc gia sống biệt lập trên núi cao nhất thế giới, và gần như không bận tậm gì mấy đến nền văn minh hiện đại của nhân loại để nghiên cứu Phật Giáo?

Và đây có thể là lời khẳng định mạnh mẽ nhất của một thầy thuốc giỏi, đã từng được tu nghiệp tại các đại học danh tiếng trên thế giới hiện nay như Havard (Mỹ) và Cfes (Pháp):

“Thầy thuốc chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được cái bệnh mà không chữa được cái hoạn.

Phật là bậc Y Vương, giúp chúng sanh giải thoát mọi khổ đau, ách nạn. Tại sao ta không học Phật?”

Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc được đặt trang trọng nơi trang đầu của tác phẩm, có đầu đề rất khiêm tốn là Tôi Học Phật, dày khoảng 800 trang.

Chính vì thế, chúng ta thấy trong các bộ kinh của Đại Thừa thì bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã say mê nhất là Kinh Kim Cang. Vì sao? Nơi trang 211 tác phẩm Tôi Học Phật, bác sĩ đồng thời cũng là nhà nghiên cứu Phật học đã cho biết lý do vì sao ông lại say mê Kinh Kim Cang:

“Hơn 2000 năm trước, Tu Bồ Đề – một đại đệ tử của Đức Phật, người “Giải Không Đệ Nhất” đã đặt một câu hỏi có lẽ còn vang vọng đến ngày nay, giữa thời đại toàn cầu hóa, thế giới phẳng này “Làm thế nào để an trụ tâm? Làm thế nào để hàng phục tâm?” (Vân hà ưng trụ, Vân hà hàng phục kỳ tâm) và câu trả lời của Đức Phật hết sức giản dị (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm) nghĩa là “Đừng có trụ vào đâu cả mà sanh cái tâm”.

Trong Kinh Trung A Hàm, một bộ kinh quan trọng của Phật giáo Tiểu Thừa, Đức Phật cũng đã giải thích rõ ràng hơn cho các các Tỳ Kheo – đệ tử của Ngài về cách an trụ và hàng phục cái Tâm:

“Này các Tỳ Kheo, Tâm dẫn thế gian đi, Tâm bị nhiễm trước, Tâm sinh khởi mà tự tại. Này các Tỳ Kheo, chính nó dẫn thế gian đi, chính nó làm nhiễm trước và cũng chính nó khởi tự tại. Này các Tỳ Kheo, Đa Văn Thánh đệ tử không để Tâm dẫn đi, không để Tâm nhiễm trước, không để Tâm tự tại. Này các Tỳ Kheo, không vâng theo sự tự tại của Tâm mà Tâm tùy theo tự tại của Đa Văn Thánh đệ tử.”

Không còn hồ nghi gì nữa, chính cái nghề thầy thuốc đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc nghiên cứu Phật học của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, và chính ông cũng đã thừa nhận như vậy, nơi trang 215 trong bài Vận Dụng Kinh Kim Cang “là một thầy thuốc, tôi đâu dám lạm bàn những chuyện “thậm thâm vi diệu khác” – nghĩa là ông chỉ muốn mọi người đọc ông rồi đem áp dụng vào đời sống hàng ngày, như chính bản thân ông cũng đã làm như vậy để khởi đầu “hàng phục” cái Tâm của mình, như bài thơ có tên là Thiền Tập ông đã cho chúng ta biết:

Thả lòng toàn thân / Như treo móc áo / Ngồi xếp bằng tròn / Vai nghiêng lưng sổ / Dõi theo hơi thở / Như mượn từ xa / Khi vào khi ra / Khi sâu khi cạn.

Nhà thơ khuyên chúng ta cứ nỗ lực như vậy, một lúc nào đó sẽ đạt được kết quả:

Thân tâm thanh tịnh / Không còn ý tưởng / Chẳng có thời gian / Hạt bụi lang thang / Dính vào hơi thở / Duyên sinh vô ngã / Ngũ uẩn giai không / Từ đó lang thang / Thỏng tay vào chợ.

Trong lời ngỏ mở đầu cho tác phẩm của mình, Đỗ Hồng Ngọc đã cho biết lý do tại sao ông phải học Phật, và đặt biệt là vì sao ông phải bỏ thời gian, công sức ngồi ghi lại những cảm xúc của bản thân về Phật học, vì theo tác giả “thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa lớp lớp bên trong”. Trong khi đó, theo Đỗ Hồng Ngọc “thời đại của chúng ta , con người dùng khối óc quá nhiều, nhiều đến nỗi người ta luôn luôn ở trong tình trạng “muốn điên cái đầu”, và thực vậy bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress,… ngày càng gia tăng trong xã hội mà người ta luôn luôn bị quay cuồng, luôn luôn chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt… Có lẽ đã đến lúc nghe lại tiếng nói của trái tim”.

Tác giả Tôi Học Phật không quên nhắc lại bài thơ nổi tiếng của Quách Thoại ở đầu thế kỷ XX, một hôm bất chợt nghe được lời em ca thiên thu từ một bông hoa dại đứng bên bờ rào đã khiến cho thi nhân phải sụp lạy cúi đầu. Theo tác giả Tôi Học Phật, lời ca đó không phải phát xuất từ bông hoa vô tri, vô giác của đóa hoa kia, mà nó đã được phát ra từ trái tim sâu thẳm của thi nhân.

Tập sách nghiên cứu về Phật học của ông cũng như vậy, ông đơn giản chỉ muốn giúp chúng ta nghe lại tiếng hát thiên thu từ trái tim mà từ lâu ta đã vô tình đánh mất giữa một xã hội chỉ biết đề cao khối óc, nghĩa là chỉ biết tính toán hơn thua mà thôi.

Từ tiếng thở dài xót xa của ông đối với thời đại ông đang sống, thời đại của khối óc mà bỏ quên trái tim yêu thương đó, khiến tôi chợt nhớ lại những bài thơ mà Đỗ Hồng Ngọc đã sáng tác vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, lúc ông còn trẻ, còn hoài bão nhiều cho quê hương đất nước. Ở đây tôi chỉ đề cập đến Quê Nhà, nơi ông đã chào đời mà thôi:

Anh thương nhớ quá làm sao nói
Gọi tên em vang động gốc cây già
(Quê Nhà)

Thi nhân ngậm ngùi nhớ lại những mùa xuân của tuổi thơ mà bây giờ đã quá xa xôi:

Mùa Xuân mừng tuổi thơm tho áo
Nắng cũng vàng phai ngày cũng xa
(Quê Nhà)

Khi xuân về Tết đến thì bông cúc, bông mai được trưng bày rực rỡ nơi các thành phố giàu sang như Sài Gòn chẳng hạn, vậy mà tuyệt nhiên nhà thơ của chúng ta không hề thấy Tết:

Đi giữa Sài Gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết
(Gió Bấc)

Chỉ khi được trở lại quê nhà, nghe được gió Bấc thổi thì đối với ông mới thực sự thấy được cái hồn của Tết:

Một sáng về quê
Chợt nghe gió Bấc
Ô hay Xuân về
Vỡ òa ngực biếc
(Gió Bấc)

Bởi vậy, cứ đến những ngày cuối tháng Chạp thì thi nhân chúng ta lại náo nức muốn bỏ lại phố phường chật chội sau lưng lên đường trở về lại quê nhà. Nơi đó có ngọn gió Bấc của mùa Xuân đang thổi như chờ đợi người con xa xứ:

Hình như gió Bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân
(Mũi Né)

Chắc chắn có nhiều người ngạc nhiên, tại sao một bác sĩ có đời sống khuôn thước, mẫu mực như Đỗ Hồng Ngọc mà lại có thể trở thành một nhà thơ? Điều này đã được ông tâm sự với Ngô Nguyên Nghiễm trong tác phẩm Đồng Hành Cùng Tôi xuất bản năm 2010. Xin được trích ra đây như lời kết cho bài viết ngắn này:

“Ai bảo Y khoa là cái Thực và thi ca là cái Huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã rung cảm đến tận tâm cang đó sao.”

Nha Trang, những ngày cuối năm 2022

Exit mobile version