Văn hóa

Tuệ Uyển dịch Việt: Tuệ trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma

TUỆ TRÍ CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Nguyên bản: The Dalai Lama’s Book Of Wisdom
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Việt dịch: Quảng Cơ/ Tuệ Uyển hiệu đính/Sunday, September 12, 2021


LỜI TỰA

 

Tuệ Trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma là một phần trích từ xuất bản trước đó của quyển Năng lực của Từ bi – những lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma phát hành vào tháng 5 năm 1993 tại Luân Đôn.

Hy vọng rằng phần trích xuất này – Tuệ Trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma – sẽ mang lại Thông điệp của Đức Đạt Lai Lạt Ma về tầm quan trọng của từ ái và bi mẫn và sự tha thứ cho nhiều đối tượng hơn.

Đức Đạt Lai Lạt Ma là nhà lãnh đạo tinh thần và thế tục của dân tộc Tây Tạng. Năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho cuộc đấu tranh bất bạo động của ngài để giải thoát Tây Tạng. Kể từ năm 1959, Đức Thánh Thiện đã sống lưu vong ở Ấn Độ. Tây Tạng tiếp tục bị chiếm đóng bởi Tàu Cộng.
Văn phòng Tây Tạng, Luân Đôn/ Tháng 9 năm 1999.

***

Tôi là một Phật tử và toàn bộ cung cách rèn luyện của tôi là theo Giáo lý Phật giáo hay Phật pháp. Mặc dù tôi nói từ kinh nghiệm của riêng mình, nhưng tôi cảm thấy rằng không ai có quyền áp đặt niềm tin của vào một người khác. Tôi sẽ không đề xuất với quý vị rằng phương cách của tôi là tốt nhất. Quyền quyết định là của bạn. Nếu bạn tìm thấy một số điểm có thể phù hợp với bạn, sau đó bạn có thể thực hiện các thực nghiệm cho chính mình. Nếu như bạn thấy rằng nó không có ích gì, thì bạn có thể loại bỏ nó.
Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV 


MỤC LỤC

PHẦN MỘT:
Toại nguyện, Niềm Vui Và Cuộc Sống Tốt Lành
PHẦN HAI:
Đối Điện Với Sự Chết Và Lâm Chung
PHẦN BA:
Đối Phó Với Sân Hận Và Cảm Xúc
PHẦN THỨ TƯ:
Cho Và Nhận


PHẦN MỘT:
TOẠI NGUYỆN, NIỀM VUI VÀ CUỘC SỐNG TỐT LÀNH

Thực tế cơ bản là tất cả chúng sanh, đặc biệt là con người, muốn hạnh phúc và không muốn đau đớn và khổ sở. Trên cơ sở đó,chúng ta có mọi quyền để được hạnh phúc và sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc có nghĩa là vượt qua đau khổ và đạt được cuộc sống hạnh phúc hơn. Thật đáng để suy nghĩ nghiêm túc về những hậu quả tích cực và tiêu cực của các phương pháp này. Bạn nên biết rằng có sự khác biệt giữa hậu quả của quan tâm ngắn hạn và quan tâm dài hạn và – và lợi ích dài hạn là quan trọng hơn. Các Phật tử thường nói rằng không có tuyệt đối và mọi thứ đều quan hệ. Vì vậy chúng ta phải phân xử tùy theo hoàn cảnh.

Trải nghiệm và cảm giác của chúng ta chủ yếu liên quan đến cơ thể và tâm thức. Chúng ta biết từ kinh nghiệm hàng ngày của mình rằng hạnh phúc về tinh thần là có lợi. Ví dụ, mặc dù hai người có thể phải đối mặt với cùng một loại bi kịch, nhưng một người có thể đối mặt với nó dễ dàng hơn người kia do thái độ tinh thần của người ấy.

Tôi tin rằng nếu ai đó thật sự muốn một cuộc sống hạnh phúc thì rất quan trọng là theo đuổi cả phương tiện bên trong và bên ngoài; nói cách khác, phát triển tinh thần và phát triển vật chất. Người ta cũng có thể nói ‘phát triển tâm linh’, nhưng khi tôi nói ‘tâm linh’, thì không nhất thiết có nghĩa là bất kỳ loại đức tin tôn giáo nào. Khi tôi sử dụng từ ngữ ‘tâm linh’, thì tôi muốn nói là những phẩm chất tốt đẹp cơ bản của con người. Đó là: tình cảm con người, ý thức của liên hệ, trung thực, kỷ luật và sự thông minh của con người thích hợp vốn được hướng dẫn bởi động cơ tốt lành. Chúng ta có tất cả những phẩm chất này từ khi sinh ra; chúng không đến với chúng ta sau này trong cuộc sống của chúng ta.

Là con người, tất cả chúng ta đều có tiềm năng con người như nhau, trừ khi có một số chức năng não nào chậm phát triển. Bộ não tuyệt vời của con người là nguồn gốc sức mạnh của chúng ta và nguồn cội tương lai của chúng ta, miễn là chúng ta sử dụng nó đúng hướng. Nếu chúng ta sử dụng trí óc thông minh của con người trong cung cách sai lầm, thì đó thật sự là một thảm họa.

Tôi nghĩ con người là những chúng sanh siêu việt trên hành tinh này. Con người không chỉ có tiềm năng tạo ra cuộc sống hạnh phúc cho bản thân họ, mà còn để giúp đỡ những chúng sanh khác. Chúng ta có một khả năng sáng tạo tự nhiên và nhận ra điều này thật là rất quan trọng.

Với việc nhận ra tiềm năng của chính mình và sự tự tin vào khả năng của cá nhân, chúng ta có thể xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Theo kinh nghiệm của riêng tôi , sự tự tin là rất quan trọng. Kiểu tự tin đó không phải là sự mù quáng; nhưng đó là nhận thức về tiềm năng của chính mình. Trên cơ bản đó, chúng ta có thể tự chuyển hóa bằng cách gia tăng những phẩm chất tốt đẹp và giảm thiểu những phẩm chất tiêu cực.

Giáo lý cơ bản của Đức Phật là lời dạy của Ngài về Bốn Chân Lý Cao Quý : 1) Rằng có đau khổ; 2) đau khổ đó có nguyên nhân; 3) có sự chấm dứt đau khổ; và, 4) có một con đường dẫn đến tự do khỏi khổ đau . Nguyên tắc cơ bản của giáo huấn này là nguyên lý nhân quả phổ quát. Điều gì trở nên quan trọng trong sự hiểu biết về giáo lý cơ bản này đó là nhận thức chân thật về tiềm năng của chính chúng ta và nhu cầu sử dụng chúng một cách tối đa. Nhìn trong ánh sáng này, thì mọi hành động của con người chúng ta trở nên đầy ý nghĩa.

Tôi tin rằng bộ não con người và lòng từ bi cơ bản của con người là tự nhiên trong một loại cân bằng nào đó. Đôi khi, khi lớn lên, chúng ta có thể quên lãng tình cảm của con người và chỉ tập trung vào não bộ [hay lý trí] con người, do đó mất cân bằng. Rồi thì đó là những thảm họa và không chào đón sự việc xảy ra.

Nụ cười là một đặc điểm rất quan trọng trên khuôn mặt con người. Nhưng vì trí thông minh của con người, cho nên ngay cả phần bản chất tốt đẹp đó của con người cũng có thể bị sử dụng sai lạc, chẳng hạn như nụ cười mỉa mai hay nụ cười xả giao, chỉ nhằm tạo ra sự nghi ngờ. Tôi cảm thấy rằng một nụ cười chân thành, trìu mến là rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Làm thế nào người ta tạo ra nụ cười, thì phần lớn phụ thuộc vào thái độ của chính họ. Thật không hợp lý khi mong đợi nụ cười từ người khác nếu tự ta không mỉm cười với chính mình. Do đó, người ta có thể thấy rằng nhiều thứ phụ thuộc vào cung cách cư xử của chính mình.

Điều quan trọng là sử dụng trí thông minh và óc phán đoán của con người, đồng thời lưu tâm đến lợi ích cho hạnh phúc lâu dài và ngắn hạn. Cho đến một thời điểm nhất định, cơ thể tự nó là một bộ chỉ bảo tốt. Ví dụ, nếu một ngày nào đó loại thực phẩm nào đó khiến bạn khó chịu, thì sau này bạn sẽ không muốn tiêu thụ loại thực phẩm đó. Có vẻ như ở một giai đoạn nhất định, chính cơ thể có thể cho chúng ta biết điều gì là phù hợp để có được cát  tường và hạnh phúc và điều gì là không.

Đôi khi trí thông minh của bạn có thể chống lại mong muốn trước mắt của bạn vì nó biết trước hậu quả lâu dài. Vì vậy, vai trò của trí thông minh là xác định tiềm năng tích cực và tiêu cực của một sự kiện hoặc yếu tố có thể có cả kết quả tích cực và tiêu cực. Đó là vai trò của trí thông minh, với sự tỉnh thức đầy đủ được cung cấp bởi tu học, để đánh giá và theo đó sử dụng tiềm năng cho lợi ích hoặc cát tường của chính một người.

Nếu chúng ta xem xét thế giới tinh thần của mình, chúng ta thấy rằng có nhiều yếu tố tinh thần khác nhau có cả mặt tích cực và tiêu cực. Ví dụ, chúng ta có thể xem xét hai loại khá giống nhau: một là tự tin và hai là tự phụ hoặc kiêu ngạo. Cả hai đều giống nhau ở chỗ đều là trạng thái tinh thần phấn chấn mang lại cho bạn sự tự tin và mạnh dạn một mức độ nhất định. Nhưng tự phụ và kiêu căng có xu hướng dẫn đến những hậu quả tiêu cực hơn, trong khi sự tự tin có xu hướng dẫn đến những hậu quả tích cực hơn.

Tôi thường phân biệt giữa các loại bản ngã khác nhau. Một loại bản ngã là tự nâng niu bản thân để đạt được lợi ích nào đó cho bản thân, coi thường quyền lợi của người khác. Đây là bản ngã tiêu cực. Một bản ngã khác nói, ‘Tôi phải là một con người tốt. Tôi phải phục vụ. Tôi phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. ”Loại cảm giác mạnh mẽ về cái ‘tôi’ hay tự ngã ấy phản đối một số cảm xúc tiêu cực của chúng ta.

Vì vậy, có hai loại bản ngã, và trí tuệ hay óc thông minh tạo nên một sự khác biệt. Tương tự thế, chúng ta phải có khả năng phân biệt giữa sự khiêm tốn chân thật và sự thiếu tự tin. Người ta có thể nhầm hai thứ ấy vì cả hai đều là những chức năng tinh thần hơi khiêm tốn, nhưng một là tích cực và một là tiêu cực.

Có cả mong muốn tích cực và tiêu cực. Ví dụ, văn học Phật giáo Đại thừa đề cập đến hai ước muốn hoặc hai nguyện vọng. Một là nguyện vọng mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh và nguyện vọng khác là đạt được thể trạng Giác Ngộ  hoàn toàn cho mục đích đó. Nếu không có hai loại nguyện vọng này, việc đạt được Toàn giác là không thể. Nhưng cũng có những điều tiêu cực do ham muốn. Đối trị cho mong muốn tiêu cực này là sự toại nguyện. Luôn luôn có những cực đoan, nhưng con đường trung đạo mới là con đường thích hợp.

Cảm giác toại nguyện là yếu tố then chốt để đạt được hạnh phúc. Sức khỏe thân thể, của cải vật chất và những người bạn đồng hành là ba yếu tố để có được hạnh phúc. Sự toại nguyện là chìa khóa sẽ quyết định kết quả của những mối quan hệ của quý vị với cả ba yếu tố này.

Khi thái độ của chúng ta đối với của cải vật chất và sự thịnh vượng của chúng ta  không đúng đắn, nó có thể dẫn đến sự dính mắc cực độ đối với những thứ như tài sản, nhà cửa và của cải của chúng ta. Điều này có thể dẫn đến không thể cảm thấy toại nguyện. Nếu điều đó xảy ra, rồi thì người ta sẽ luôn ở trong trạng thái không hài lòng, luôn muốn nhiều hơn nữa. Theo một cách nào đó, người ta sau đó thật sự nghèo, bởi vì đau khổ của nghèo đói là đau khổ của sự mong muốn một cái gì đó và cảm thấy thiếu nó.

Bây giờ khi chúng ta nói về đối tượng của sự thích thú hay ham muốn và cát tường vật chất, giáo lý nhà Phật đề cập đến năm loại đối tượng của ham muốn: hình tướng, âm thanh, mùi hương, vị nếm và xúc chạm. Những đối tượng hưởng thụ này có dẫn đến hạnh phúc, hài lòng và toại nguyện hay không, hay ngược lại, làm nảy sinh đau khổ và bất mãn phụ thuộc rất nhiều vào cách bạn áp dụng khả năng thông minh của mình. Thái độ của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày là yếu tố then chốt để quyết định xem những điều này có thật sự tạo ra sự hài lòng lâu dài và chân thật hay không. Phần lớn phụ thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Và đối với yếu tố tinh thần này, động lực là điều quan trọng then chốt.

Trong kinh luận Phật giáo, cuộc sống con người được xem như một dạng tồn tại hoặc tái sinh thuận lợi. Có nhiều yếu tố khác nhau có thể bổ sung cho sự tồn tại thuận lợi của con người, chẳng hạn như có tuổi thọ, sức khỏe tốt, của cải vật chất và tài hùng biện vì thế người ta có thể liên hệ với người khác theo cách có lợi hơn. Nhưng liệu những điều kiện này có dẫn đến sự tồn tại có lợi hơn hay có hại hơn hay không phụ thuộc rất nhiều vào cách bạn sử dụng chúng và liệu bạn có áp dụng khả năng thông minh hay không.

Kinh luận Phật giáo đề cập đến việc thực hành Sáu Ba La Mật. Ví dụ, trong trường hợp có được của cải vật chất, theo Phật giáo, sự bố thí và hành động ban cho được coi là nguyên nhân của sự giàu có. Nhưng để thực hành lòng bố thí và ban cho thành công, trước hết người ta phải có một kỷ luật đạo đức lành mạnh (trì giới). Và kỷ luật đạo đức đó chỉ có thể đạt được nếu một người có khả năng chịu đựng gian khổ (nhẫn nhục) khi đối đầu với chúng. Để làm được điều đó, bạn cũng cần một mức độ vui vẻ nỗ lực (tinh tấn) nhất định.

Để thực hành áp dụng thành công nỗ lực vui vẻ (tinh tấn), người ta phải có khả năng tập trung, chú tâm (thiền định) vào các sự kiện, hành động hoặc mục tiêu. Điều đó lại phụ thuộc vào việc bạn có khả năng thực hiện năng lực phán đoán (tuệ trí) của mình hay không, để đánh giá giữa điều gì là đáng mong muốn và điều gì là không đáng mong muốn, điều gì là tiêu cực và điều gì là tích cực.

Làm thế nào để chúng ta thực hiện các nguyên tắc được quy định trong việc thực hành Sáu Ba La Mật trong cuộc sống hàng ngày của mình? Phật giáo khuyến nghị nên sống một cuộc đời trong giới luật đạo đức tuân thủ những gì được gọi là Mười Giới (thập thiện), hoặc Tránh Mười Hành động Tiêu cực. Hầu hết các Hành động Tiêu cực là điểm chung của tất cả các truyền thống tôn giáo. Chúng bị coi là tiêu cực hoặc không mong muốn đối với xã hội nói chung, bất kể quan điểm tôn giáo nào.

Ứng xử tốt là cung cách mà cuộc sống trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn, mang tính xây dựng hơn và hòa bình hơn. Đối với điều này, phần lớn phụ thuộc vào hành vi của chúng ta và thái độ tinh thần của chúng ta.


PHẦN HAI:
ĐỐI DIỆN VỚI SỰ CHẾT VÀ LÂM CHUNG

Vấn đề đối mặt với cái chết một cách thanh thản là một vấn đề rất khó khăn. Theo lẽ thường, dường như có hai cách giải quyết vấn đề và đau khổ. Đầu tiên chỉ đơn giản là cố gắng tránh vấn đề, gạt nó ra khỏi tâm trí của bạn, mặc dù thực tế của vấn đề đó vẫn còn đó và nó không giảm thiểu. Một cách khác để giải quyết vấn đề này là nhìn thẳng vào vấn đề và phân tích nó, làm cho nó trở nên quen thuộc với bạn và nói rõ rằng nó là một phần trong cuộc sống của chúng ta.

Bệnh tật xảy ra. Nó không phải là một cái gì đó đặc biệt; nó là một phần của tự nhiên và là một thực tế của cuộc sống. Tất nhiên chúng ta có mọi quyền để tránh bệnh tật và đau đớn, nhưng bất chấp nỗ lực đó, khi bệnh tật xảy ra, tốt hơn là nên chấp nhận nó. Mặc dù bạn nên cố gắng hết sức để chữa khỏi nó càng sớm càng tốt, nhưng bạn không có thêm gánh nặng về tinh thần nào khác. Như học giả vĩ đại Ấn Độ Tịch Thiên (Shantideva) đã nói: ‘Nếu có cách để vượt qua đau khổ, thì không cần phải lo lắng; nếu không có cách nào để vượt qua đau khổ, thì lo lắng cũng chẳng ích gì.’ Loại thái độ lý trí đó khá hữu ích.

Cái chết là một phần của cuộc sống của tất cả chúng ta. Cho dù chúng ta có thích hay không, nó chắc chắn sẽ xảy ra. Thay vì tránh suy nghĩ về nó, tốt hơn là thấu hiểu ý nghĩa của nó. Tất cả chúng ta đều có cùng một cơ thể, cùng một loại thịt xương con người, và do đó tất cả chúng ta sẽ chết. Tất nhiên, có một sự khác biệt lớn giữa cái chết tự nhiên và cái chết tai nạn, nhưng về cơ bản cái chết sẽ đến sớm hay muộn. Nếu từ đầu, thái độ của bạn là, ‘Vâng, cái chết là một phần của cuộc sống của chúng ta’, thế thì nó có thể dễ đối mặt hơn.

Có hai cách tiếp cận riêng biệt để đối phó với một vấn đề. Một là chỉ đơn giản là tránh nó bằng cách không nghĩ về nó. Cái kia, hiệu quả hơn nhiều, là đối mặt với nó một cách trực tiếp vì thế bạn đã có ý thức về nó. Nói chung, có hai loại vấn đề hoặc đau khổ: Với một loại, có thể, bằng cách tiếp nhận một thái độ nào đó, thì người ta có thể thật sự làm giảm năng lực cùng mức độ đau khổ và lo lắng. Tuy nhiên, có thể có những loại vấn đề và đau khổ khác mà việc tiếp nhận một loại thái độ và cách suy nghĩ nào đó có thể không nhất thiết làm giảm mức độ đau khổ, nhưng điều đó vẫn sẽ chuẩn bị cho bạn đối mặt với nó.

Khi những điều không may xảy ra trong cuộc sống của chúng ta thì có hai kết quả có thể xảy ra. Một khả năng là tinh thần bất ổn, lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ, thất vọng và cuối cùng là trầm cảm, và trong trường hợp xấu nhất, thậm chí là tự tử. Đó là một cách. Khả năng khác là do trải nghiệm bi thảm đó mà bạn trở nên thực tế hơn, bạn trở nên gần với thực tại hơn. Với sức mạnh của sự thẩm tra, trải nghiệm bi thảm có thể khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn, đồng thời gia tăng sự tự tin và lòng tự lập của bản thân. Sự kiện không may có thể là một nguồn sức mạnh bên trong.

Sự thành công trong cuộc sống và tương lai của chúng ta phụ thuộc vào động cơ và sự quyết tâm hay sự tự tin của chúng ta. Trải qua những trải nghiệm khó khăn, cuộc sống đôi khi trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn. Nếu bạn nhìn vào những người mà ngay từ đầu cuộc đời của họ đã có tất cả mọi thứ, bạn có thể thấy rằng khi những điều nhỏ nhặt xảy ra, họ sẽ sớm mất hy vọng hoặc trở nên cáu kỉnh. Những người khác đã phát triển thái độ tinh thần mạnh mẽ hơn do kết quả của những khó khăn của họ.

Tôi nghĩ rằng người đã từng trải qua nhiều gian khổ có thể đứng vững hơn khi đối mặt với vấn đề hơn là người chưa từng trải qua đau khổ. Từ góc độ này, thế thì một đau khổ nào đó có thể là một bài học tốt cho cuộc sống.

Riêng tôi, tôi đã mất đất nước của mình và tệ hơn nữa, đất nước của tôi đã có rất nhiều sự tàn phá, đau khổ và bất hạnh. Tôi đã dành không chỉ phần lớn cuộc đời mình mà còn là phần tốt nhất của cuộc đời mình bên ngoài Tây Tạng. Nếu bạn chỉ nghĩ về điều này từ góc độ đó, hầu như không có bất cứ điều gì tích cực. Nhưng ở một góc độ khác, bạn có thể thấy rằng vì những điều không may này mà tôi đã có một kiểu tự do khác, chẳng hạn như cơ hội gặp gỡ những người khác nhau từ các truyền thống khác nhau và cũng có thể gặp gỡ các nhà khoa học từ các lãnh vực khác nhau. và tôi đã học được nhiều điều quý giá. Vì vậy, những kinh nghiệm bi thảm của tôi cũng có một số khía cạnh đáng giá.

Nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau thật sự làm giảm bớt gánh nặng tinh thần. Theo quan điểm của Phật giáo, mọi sự kiện đều có nhiều khía cạnh và đương nhiên một sự kiện có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Rất hiếm hoặc hầu như không thể xảy ra một sự kiện có thể là tiêu cực từ mọi quan điểm. Vì vậy, sẽ rất hữu ích khi có điều gì đó xảy ra, hãy cố gắng nhìn nó từ nhiều góc độ khác nhau và sau đó bạn có thể nhìn thấy những khía cạnh tích cực hoặc có lợi. Hơn nữa, nếu có điều gì đó xảy ra, việc so sánh với một số sự kiện khác hoặc với sự kiện của người khác hoặc quốc gia khác sẽ rất hữu ích ngay lập tức. Điều này cũng rất hữu ích trong việc duy trì sự hòa bình của bạn.

Bây giờ tôi sẽ giải thích, với tư cách là một tu sĩ Phật giáo, làm thế nào để đối phó với cái chết. Đức Phật đã dạy các nguyên tắc của Bốn Chân Lý Cao Quý (Tứ Diệu Đế), trong đó nguyên tắc đầu tiên là Sự thật về Khổ. Sự thật về Khổ được giảng dạy trong bối cảnh có ba đặc tính của sự tồn tại, đặc điểm thứ nhất là tính vô thường. Khi nói về bản chất của vô thường, chúng ta phải ghi nhớ rằng có hai cấp độ. Một là mức độ thô, khá rõ ràng và là sự ngừng tiếp tục của một cuộc sống hoặc một sự kiện. Nhưng bản chất vô thường đang được giảng dạy liên quan đến Tứ Diệu Đế đề cập đến khía cạnh vi tế hơn của vô thường, đó là bản chất tạm thời của sự tồn tại.

Bằng cách quán chiếu về các mức độ thô hơn của vô thường, người ta sẽ có thể đối đầu và chống lại sự bám chấp ở tính thường còn hoặc tồn tại vĩnh viễn về đặc tính hay bản ngã của chính mình, bởi vì nắm bắt ở tính thường còn buộc chúng ta phải bám chấp vào chính ‘bây giờ’ hoặc các vấn đề. của chính mình suốt đời. Bằng cách giải thoát sự kìm kẹp của việc bám chấp và tồn tại vĩnh viễn này trong chúng ta, thì chúng ta sẽ ở một vị trí tốt hơn để thấu hiểu giá trị của sự hoạt động vì những kiếp sống tương lai của chúng ta.

Một trong những lý do tại sao tỉnh thức về cái chết và sự vô thường là rất quan trọng trong thực hành tôn giáo của Đạo Phật vì người ta cho rằng trạng thái tâm trí của bạn lúc chết có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định hình thức tái sinh bạn có thể có. Cho dù đó là trạng thái tinh thần tích cực hay tiêu cực đều sẽ có tác dụng rất lớn. Vì vậy, thực hành tôn giáo của Đạo Phật nhấn mạnh rất lớn tầm quan trọng của sự tỉnh thức về cái chết và vô thường.

Một trong những tác dụng phụ tích cực của việc duy trì mức độ tỉnh thức về cái chết rất cao là nó sẽ chuẩn bị cho cá nhân đến mức mà khi cá nhân đó thật sự đối mặt với cái chết, người ấy sẽ ở một vị trí tốt hơn để duy trì sự có mặt của tâm thức người ấy. Đặc biệt trong Phật giáo Mật tông, người ta coi trạng thái tâm thức mà một người trải qua lúc sắp chết là vô cùng vi tế và vì sự tinh tế của cấp độ tâm thức đó, nó cũng có một sức mạnh to lớn và tác động lên sự tương tục của tâm thức của hành giả.

Trong các thực hành Mật tông, chúng tôi nhận thấy rất nhiều sự nhấn mạnh vào những quán chiếu về tiến trình của cái chết, vì thế cá nhân vào lúc chết không chỉ giữ được sự chánh niệm của tâm thức mà còn có thể sử dụng trạng thái vi tế đó của tâm thức một cách hiệu quả hướng tới việc thực chứng con đường [tu tập].

Từ quan điểm Mật thừa, toàn bộ quá trình tồn tại được giải thích trong dạng thức của ba giai đoạn được biết như là ‘sự chết’, ‘trạng thái trung ấm và ‘tái sanh’. Tất cả ba giai đoạn tồn tại này được xem như là những trạng thái hoặc biểu hiện của tâm thức và các năng lượng đi kèm hoặc thúc đẩy tâm thức, vì thế trạng thái trung ấm và tái sanh không gì khác hơn là các cấp độ khác nhau của tâm thức và năng lượng vi tế. Ví dụ về các trạng thái dao động như vậy có thể được tìm thấy trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, khi trong suốt 24 giờ trong ngày chúng ta trải qua chu kỳ ngủ sâu, thời kỳ thức và trạng thái giấc mơ. Sự tồn tại hàng ngày của chúng ta trên thực tế được đặc trưng bởi ba giai đoạn này.

Khi cái chết trở thành một thứ gì đó quen thuộc với bạn, khi bạn có một số kiến thức về các quá trình của nó và có thể nhận ra các dấu hiệu bên ngoài và bên trong của nó, thì bạn đã chuẩn bị sẵn sàng cho nó. Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi vẫn không tự tin rằng vào lúc chết, tôi sẽ thực sự thực hiện tất cả những thực hành mà tôi đã chuẩn bị. Tôi không có gì đảm bảo!

Đôi khi tôi nghĩ về cái chết, tôi có một cảm giác hào hứng nào đó. Thay vì sợ hãi, tôi có cảm giác tò mò và điều này khiến tôi dễ dàng chấp nhận cái chết hơn rất nhiều. Tất nhiên, gánh nặng duy nhất của tôi nếu tôi chết hôm nay là, ‘Ồ, chuyện gì sẽ xảy ra với Tây Tạng? Còn văn hóa Tây Tạng thì sao? Còn về quyền của sáu triệu người dân Tây Tạng thì sao? ”Đây là mối quan tâm chính của tôi. Nếu không, tôi hầu như không cảm thấy sợ hãi gì với cái chết.

Trong thực hành cầu nguyện hàng ngày của tôi, tôi quán tưởng tám yoga bổn tôn khác nhau và tám cái chết khác nhau. Có lẽ khi cái chết đến, mọi sự chuẩn bị của tôi có thể thất bại. Tôi hy vọng là không! Tôi nghĩ rằng những thực hành này rất hữu ích về mặt tinh thần trong việc đối phó với cái chết. Ngay cả khi không có kiếp sau, sẽ có lợi ích nào đó nếu họ giải tỏa được nỗi sợ hãi. Và bởi vì ít sợ hãi hơn, người ta có thể chuẩn bị đầy đủ hơn. Nếu bạn đã chuẩn bị đầy đủ thế thì vào lúc lâm chung, bạn có thể giữ được sự thanh thản cho tâm hồn mình.

Tôi nghĩ rằng lúc chết một tâm hồn thanh thản là điều cần thiết cho dù bạn tin vào điều gì, cho dù đó là Phật giáo hay một tôn giáo nào khác. Vào lúc chết, cá nhân không nên tìm cách phát triển sự tức giận, thù hận, v.v. Tôi nghĩ ngay cả những người không tín ngưỡng cũng thấy tốt hơn là ra đi trong thanh thản thì hạnh phúc hơn nhiều. Ngoài ra, đối với những người tin vào thiên đàng hoặc một số quan niệm khác, tốt nhất là nên ra đi trong thanh thản với suy nghĩ về Chúa của riêng một người hoặc niềm tin vào các thế lực cao hơn. Đối với các Phật tử và các truyền thống Ấn Độ cổ đại khác, vốn chấp nhận thuyết tái sinh hay nghiệp báo, đương nhiên vào lúc chết, trạng thái tâm hồn đức hạnh sẽ có lợi.


PHẦN BA
ĐỐI PHÓ VỚI SÂN HẬN VÀ CẢM XÚC

Giận dữ và thù hận là hai trong số những người bạn thân thiết nhất của chúng ta. Khi tôi còn trẻ, tôi có một mối quan hệ khá chặc chẽ với sự tức giận. Rồi cuối cùng tôi thấy rất không thích hợp với sự tức giận. Bằng cách sử dụng lý trí thông thường, với sự trợ giúp của lòng từ bi và trí tuệ, giờ đây tôi có một lý lẽ mạnh mẽ hơn để đánh bại sự tức giận.

Có lẽ có hai loại tức giận. Một loại tức giận có thể được chuyển đổi thành một cảm xúc tích cực. Ví dụ: nếu một người có động cơ từ bi chân thành và quan tâm đến ai đó và người đó không để ý đến cảnh báo của người ấy về hành động của họ, thì không có cách nào khác ngoại trừ việc sử dụng một số loại năng lực để ngăn chặn hành vi sai trái của người đó.

Theo kinh nghiệm của tôi, rõ ràng nếu mỗi cá nhân nỗ lực thì sẽ thay đổi được. Tất nhiên, sự thay đổi không phải là ngay lập tức và cần rất nhiều thời gian. Để thay đổi và đối phó với cảm xúc, điều quan trọng là phải phân tích những suy nghĩ nào là hữu ích, mang tính xây dựng và có lợi cho chúng ta. Ý tôi chủ yếu là những suy nghĩ giúp chúng ta bình tĩnh hơn, thoải mái hơn và mang lại cho chúng ta sự yên tâm, thay vì những suy nghĩ tạo ra sự bất an, sợ hãi và thất vọng.

Trong cơ thể có hàng tỷ hạt khác nhau. Tương tự như vậy, có nhiều suy nghĩ khác nhau và nhiều trạng thái của tâm trí khác nhau. Điều thông tuệ là bạn nên quan sát kỹ thế giới tâm trí của mình và phân biệt giữa các trạng thái tâm có lợi và có hại. Một khi bạn có thể nhận ra giá trị của trạng thái tâm trí tốt, thì bạn có thể tăng cường hoặc nuôi dưỡng chúng.

Đức Phật đã dạy các nguyên tắc của Bốn Chân Lý Cao Quý (Tứ Diệu Đế) và những nguyên tắc này tạo nên nền tảng của Phật Pháp. Chân lý Cao quý thứ ba là sự chấm dứt. Trong phạm trù này, sự chấm dứt có nghĩa là trạng thái của tâm trí hoặc chất lượng tinh thần, thông qua thực hành và nỗ lực, chấm dứt tất cả các cảm xúc tiêu cực. Đó là trạng thái mà cá nhân đã đạt đến trạng thái hoàn thiện của tâm trí, không bị ảnh hưởng bởi các cảm xúc và suy nghĩ phiền não và tiêu cực khác nhau.

Theo Phật giáo, trạng thái của sự chấm dứt (diệt đế) thật sự là nơi nương tựa mà tất cả các Phật tử thực hành đều tìm kiếm. Lý do người ta tìm nơi nương tựa nơi Đức Phật, không phải vì ngay từ đầu Đức Phật đã là một người đặc biệt, mà vì Đức Phật đã thực chứng trạng thái diệt đế thực sự.

Nói chung, trong kinh luận Phật giáo, cảm xúc hoặc suy nghĩ tiêu cực được định nghĩa là ‘trạng thái gây xáo trộn trong tâm thức của chúng ta. Những cảm xúc và suy nghĩ phiền não này là yếu tố tạo ra bất hạnh và xáo trộn trong chúng ta. Tình cảm nói chung không nhất thiết phải là điều gì đó tiêu cực. Tại một hội nghị khoa học mà tôi tham dự cùng với nhiều nhà tâm lý học và nhà khoa học thần kinh, người ta kết luận rằng ngay cả các vị Phật cũng có cảm xúc, theo định nghĩa của cảm xúc được tìm thấy trong các ngành khoa học khác nhau. Vì vậy, karuna (lòng từ bi hoặc lòng tốt vô hạn) có thể được mô tả như một loại cảm xúc.

Đương nhiên cảm xúc có thể tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, khi nói về sự tức giận, v.v., chúng ta đang đối mặt với những cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc ngay lập tức tạo ra một số loại bất hạnh hoặc không thoải mái và về lâu dài, tạo ra một số hành động nhất định. Những hành động đó cuối cùng dẫn đến tổn hại cho người khác và điều này mang lại đau đớn hoặc khổ sở cho chính mình. Đây là những gì chúng tôi muốn nói đến các cảm xúc tiêu cực.

Trong thực hành Mật tông, có những kỹ thuật thiền định cho phép chuyển hóa năng lượng của sự giận dữ. Đây là lý do đằng sau những vị bổn tôn phẫn nộ. Trên cơ sở động lực từ bi, trong một số trường hợp, tức giận có thể hữu ích vì nó mang lại cho chúng ta thêm năng lượng và cho phép chúng ta hành động nhanh chóng. Tuy nhiên, tức giận thường dẫn đến hận thù và hận thù luôn là tiêu cực. Hận thù ẩn chứa ác ý.

Tôi thường phân tích sự tức giận ở hai cấp độ: cấp độ cơ bản của con người và cấp độ Phật giáo. Từ cấp độ con người, không liên quan đến truyền thống tôn giáo hay ý thức hệ, chúng ta có thể nhìn vào nguồn gốc của hạnh phúc của chúng ta: sức khỏe tốt, cơ sở vật chất và bạn đồng hành tốt. Bây giờ từ quan điểm sức khỏe, những cảm xúc tiêu cực như hận thù là rất tồi tệ.

Trạng thái tinh thần của bạn phải luôn điềm tĩnh. Ngay cả khi một số lo lắng xảy ra, vì nó chắc chắn xảy ra trong cuộc sống, bạn nên luôn điềm tĩnh. Giống như một làn sóng, nổi lên từ mặt nước và hòa tan trở lại vào nước, những xáo trộn này rất ngắn, vì vậy chúng sẽ không ảnh hưởng đến thái độ tinh thần cơ bản của bạn. Nếu bạn giữ được điềm tĩnh huyết áp của bạn vẫn bình thường hơn và kết quả là sức khỏe của bạn sẽ được cải thiện.

Một số người bạn thân của tôi bị huyết áp cao, nhưng họ không bao giờ đến gần viêc  khủng hoảng về sức khỏe và họ không bao giờ cảm thấy mệt mỏi. Trong những năm qua tôi đã gặp một số thực tập viên rất tốt. Trong khi đó, có những bạn khác dù có vật chất tốt nhưng khi chúng tôi bắt đầu nói chuyện, sau những lời tốt đẹp ban đầu, họ bắt đầu phàn nàn và đau buồn. Mặc dù sung túc về vật chất, nhưng những người này không có tâm hồn điềm tĩnh và ôn hòa. Kết quả là họ luôn phải lo lắng về tiêu hóa, giấc ngủ và mọi thứ! Do đó rõ ràng rằng sự tĩnh lặngvề tinh thần là một yếu tố rất quan trọng để có một sức khỏe tốt.

Nguồn hạnh phúc thứ hai đến từ cơ sở vật chất của chúng ta. Đôi khi tôi thức dậy vào sáng sớm, nếu tâm trạng của tôi không được tốt lắm, thì khi nhìn đồng hồ, tôi cảm thấy tâm trạng không thoải mái. Sau đó, vào những ngày khác, có lẽ do kinh nghiệm của ngày hôm trước, khi tôi thức dậy tâm trạng của tôi rất dễ chịu và yên bình. Lúc đó, khi nhìn vào chiếc đồng hồ của mình, tôi thấy nó đẹp đến lạ thường. Tuy nhiên, nó là cùng một chiếc đồng hồ, phải không? Sự khác biệt đến từ thái độ tinh thần. Việc sử dụng các phương tiện vật chất của chúng ta có đem lại sự hài lòng thật sự hay không phụ thuộc vào thái độ tinh thần của chúng ta.

Thật là xấu cho của cải vật chất của chúng ta nếu tâm trí của chúng ta bị cơn giận chi phối. Nói lại từ kinh nghiệm của bản thân, khi còn trẻ, tôi thỉnh thoảng sửa đồng hồ. Tôi đã thử và thất bại nhiều lần. Đôi khi tôi sẽ mất kiên nhẫn và đánh đồng hồ! Trong những lúc đó, sự tức giận của tôi đã làm thay đổi toàn bộ thái độ của tôi và sau đó tôi cảm thấy rất hối hận vì hành động của mình. Nếu mục tiêu của tôi là sửa đồng hồ, vậy tại sao tôi lại đập nó xuống bàn? Một lần nữa, bạn có thể thấy thái độ tinh thần của một người là quan trọng như thế nào để sử dụng cơ sở vật chất vì sự hài lòng hoặc lợi ích thật sự của chính họ.

Nguồn hạnh phúc thứ ba là những người bạn đồng hành của chúng ta. Rõ ràng là khi điềm tĩnh về tinh thần, bạn là người trung thực và cởi mở. Ngay cả khi có sự khác biệt lớn về quan điểm, bạn có thể giao tiếp ở cấp độ như con người. Bạn có thể gạt những ý kiến khác nhau này sang một bên và giao tiếp với tư cách như những con người. Tôi nghĩ đó là một cách để tạo cảm giác tích cực trong tâm trí người khác.

Tôi nghĩ rằng tình cảm con người chân chính có giá trị hơn là địa vị, v.v. Tôi chỉ là một con người đơn giản. Thông qua kinh nghiệm và kỷ luật tinh thần của tôi, một thái độ mới nhất định đã phát triển. Điều này không có gì đặc biệt. Bạn, người mà tôi nghĩ đã có một nền giáo dục tốt hơn và nhiều kinh nghiệm hơn bản thân tôi, có nhiều tiềm năng để thay đổi hơn trong bản thân. Tôi đến từ một ngôi làng nhỏ, không có nền giáo dục hiện đại và không có nhận thức sâu sắc về thế giới. Ngoài ra, từ năm 15 hay 16 tuổi, tôi đã có một loại gánh nặng không thể tưởng tượng được.

Mỗi người trong số các bạn nên cảm thấy rằng mình có tiềm năng to lớn và với sự tự tin và nỗ lực hơn một chút, bạn sẽ thật sự có thể thay đổi nếu muốn. Nếu bạn cảm thấy cuộc sống hiện tại của mình không mấy dễ chịu hoặc gặp một số khó khăn, thì đừng nhìn vào những điều tiêu cực này. Hãy nhìn thấy mặt tích cực, tiềm năng và hãy nỗ lực.

Vì vậy, liên quan đến việc tiếp xúc với đồng loại, thì thái độ tinh thần của chúng ta là rất quan trọng. Ngay cả đối với một người không tín ngưỡng, chỉ là một chúng sanh trung thực giản dị, thì nguồn hạnh phúc cuối cùng là ở thái độ tinh thần của chúng ta. Ngay cả khi bạn có sức khỏe tốt, cơ sở vật chất được sử dụng đúng cách và quan hệ tốt với những người khác, thì nguyên nhân chính của một cuộc sống hạnh phúc là ở bên trong.

Bây giờ bạn có thể thấy cách giảm thiểu sự tức giận và thù hận như thế nào. Đầu tiên, điều cực kỳ quan trọng là phải nhận ra sự tiêu cực của những cảm xúc này nói chung, đặc biệt là sự thù hận. Tôi coi hận thù là kẻ thù cuối cùng. “Kẻ thù”, tôi muốn nói có nghĩa là người hoặc nhân tố trực tiếp hoặc gián tiếp phá hủy sự quan tâm của chúng ta. Mối quan tâm của chúng ta vốn là việc cuối cùng tạo ra tạo ra hạnh phúc.

Chúng ta cũng có thể nói về kẻ thù bên ngoài. Ví dụ, trong trường hợp của riêng tôi, các anh chị em người Hoa của chúng tôi hay đúng hơn là những người cầm quyền Tàu Cộng  đang hủy hoại các quyền của người Tây Tạng và theo cách đó, đau khổ và lo lắng ngày càng nhiều hơn. Nhưng dù có mạnh mẽ đến đâu, nó cũng không thể phá hủy nguồn hạnh phúc tối cao của tôi, đó là sự tĩnh lặng của tâm tôi. Đây là điều mà kẻ thù bên ngoài không thể tiêu diệt được. Đất nước của chúng ta có thể bị xâm lược, tài sản của chúng ta có thể bị phá hủy, bạn bè của chúng ta có thể bị giết, nhưng những điều này chỉ là thứ yếu cho hạnh phúc tinh thần của chúng ta. Nguồn gốc cuối cùng của hạnh phúc tinh thần của tôi là sự yên tâm của tôi. Không gì có thể phá hủy điều này ngoại trừ sự tức giận của chính tôi.

Hơn nữa, bạn có thể trốn thoát hoặc ẩn náu khỏi kẻ thù bên ngoài và đôi khi bạn thậm chí có thể lừa dối kẻ thù. Ví dụ, nếu có ai đó quấy rầy sự bình yên của tôi, tôi có thể lẫn tránh bằng cách khóa cửa và ngồi yên lặng một mình. Nhưng tôi không thể làm điều đó với sự tức giận! Bất cứ nơi nào tôi đi, nó luôn ở đó. Mặc dù tôi đã khóa cửa phòng nhưng cơn tức giận vẫn còn trong lòng. Trừ khi bạn áp dụng một phương pháp nhất định, còn thì không có khả năng thoát khỏi. Do đó, hận thù hay tức giận – và ở đây tôi muốn nói đến sự tức giận tiêu cực – cuối cùng là kẻ hủy diệt thật sự sự bình yên của tôi và do đó là kẻ thù thật sự của tôi.

Một số người cho rằng kìm nén cảm xúc là không tốt, nên để nó lộ ra ngoài sẽ tốt hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng có sự khác biệt giữa các cảm xúc tiêu cực khác nhau. Ví dụ, với sự thất vọng, có một sự thất vọng nhất định phát triển do kết quả của các sự kiện trong quá khứ. Đôi khi nếu bạn che giấu những sự kiện tiêu cực này, chẳng hạn như lạm dụng tình dục, thì điều này có ý thức hoặc vô thức sẽ tạo ra vấn đề. Vì vậy, trong trường hợp này, tốt hơn hết là bạn nên bày tỏ sự thất vọng và nói ra.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi về sự tức giận, nếu bạn không cố gắng giảm bớt nó, nó sẽ vẫn tồn tại trong bạn và thậm chí còn tăng lên. Sau đó, ngay cả với những sự cố nhỏ, bạn sẽ ngay lập tức nổi giận. Một khi bạn cố gắng kiểm soát hoặc rèn luyện cơn giận của mình, thì cuối cùng, ngay cả những sự kiện lớn cũng sẽ không gây ra cơn giận.

Khi cơn giận đến, có một kỹ thuật quan trọng giúp bạn giữ được sự bình yên trong tâm hồn. Bạn không nên trở nên bất mãn hoặc thất vọng, bởi vì đây là nguyên nhân của sự tức giận và thù hận. Có một mối liên hệ tự nhiên giữa nguyên nhân và kết quả. Một khi các nguyên nhân và điều kiện nhất định được đáp ứng đầy đủ, thì rất khó để ngăn chặn quá trình nhân quả đó thành hiện thực. Điều quan trọng là phải xem xét tình huống để ở giai đoạn rất sớm, người ta có thể dừng quá trình nhân quả. Sau đó, nó không tiếp tục đến một giai đoạn nâng cao.

Trong luận điển Phật giáo Hướng Dẫn Về Lối Sống Của Bồ Tát, học giả vĩ đại Tịch Thiên (Shantideva) đề cập rằng điều rất quan trọng là đảm bảo rằng chúng ta không bị rơi vào tình huống dẫn đến bất mãn, bởi vì không hài lòng là mầm mống của sân hận. Điều này có nghĩa là chúng ta phải có một cái nhìn nhất định đối với tài sản vật chất của chúng ta, đối với những người đồng hành và bạn bè của chúng ta và đối với các tình huống khác nhau.

Thực tế, cảm giác không hài lòng, không vui, mất hy vọng, v.v. của chúng ta có liên quan đến mọi hiện tượng. Nếu chúng ta không áp dụng cách nhìn đúng đắn, có thể bất cứ điều gì và mọi thứ đều có thể khiến chúng ta thất vọng. Tuy nhiên, các hiện tượng là một phần của thực tại và chúng ta phải tuân theo các quy luật của sự tồn tại. Vì vậy, điều này khiến chúng ta chỉ có một lựa chọn:là  thay đổi thái độ của chính mình. Bằng cách mang lại sự thay đổi trong cách nhìn của chúng ta đối với các sự vật và sự kiện, tất cả các hiện tượng có thể trở thành bạn bè hoặc nguồn hạnh phúc, thay vì trở thành kẻ thù hoặc nguồn gây thất vọng.

Ở một khía cạnh nào đó, có kẻ thù là điều rất tệ. Nó làm xáo trộn sự bình yên tinh thần của chúng ta và phá hủy một số điều tốt đẹp của chúng ta. Nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, chỉ có kẻ thù mới cho chúng ta cơ hội rèn luyện tính kiên nhẫn. Không ai khác cung cấp cho chúng ta cơ hội khoan dung. Vì chúng ta không biết phần lớn trong số năm tỷ con người trên trái đất này, nên phần lớn mọi người cũng không cho chúng ta cơ hội để thể hiện sự khoan dung hay kiên nhẫn. Chỉ những người mà chúng ta biết và những người tạo ra vấn đề cho chúng ta mới thật sự cung cấp cho chúng ta cơ hội tốt để rèn luyện lòng khoan dung và kiên nhẫn.

Tịch Thiên (Shantideva) nói rằng chính ý định làm hại chúng ta đã khiến kẻ thù trở nên rất đặc biệt. Nếu kẻ thù không có ý định làm hại chúng ta, thì chúng ta sẽ không phân loại người đó thành kẻ thù, do đó thái độ của chúng ta sẽ hoàn toàn khác. Chính ý định làm hại chúng ta của người đó khiến người đó trở thành kẻ thù và vì thế kẻ thù tạo cơ hội cho chúng ta rèn luyện lòng khoan dung và nhẫn nại. Do đó kẻ thù quả thật là một người thầy đáng quý. Bằng cách suy nghĩ theo những dòng này, cuối cùng bạn có thể giảm bớt những cảm xúc tiêu cực về tinh thần, đặc biệt là sự thù hận.

Một câu hỏi khác là nếu bạn luôn khiêm tốn thì người khác có thể lợi dụng bạn và bạn nên phản ứng như thế nào? Nó khá đơn giản: bạn nên hành động với trí tuệ hoặc lẽ thường, không tức giận và hận thù. Nếu tình huống đến mức bạn cần phải hành động từ phía mình, bạn có thể thực hiện biện pháp đối phó mà không cần tức giận. Trên thực tế, những hành động tuân theo trí tuệ thật sự chứ không phải là tức giận trên thực tế có hiệu quả hơn. Biện pháp đối phó được thực hiện trong lúc tức giận thường có thể sai. Không có giận dữ và không có hận thù, chúng ta có thể đối phó hiệu quả hơn.

Có một kiểu thực hành bao dung khác liên quan đến việc chấp nhận những đau khổ của người khác một cách có ý thức. Tôi đang nghĩ đến những tình huống mà khi tham gia vào một số hoạt động nhất định, chúng ta nhận thức được những khó khăn, những khó khăn và vấn đề có liên quan trước mắt, nhưng tin chắc rằng những hành động đó sẽ có tác dụng rất có lợi về lâu dài. Vì thái độ của chúng ta và chí nguyện của chúng ta và mong muốn mang lại lợi ích lâu dài đó, đôi khi chúng ta có ý thức và cố ý nhận về mình những khó khăn và vấn đề liên quan đến ngắn hạn.

Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng nếu vị Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn này ít cười hơn, có lẽ tôi sẽ có ít bạn bè hơn ở nhiều nơi khác nhau. Thái độ của tôi đối với người khác là luôn nhìn họ từ cấp độ con người. Ở cấp độ đó, dù là tổng thống, hoàng hậu hay người ăn xin, không có sự khác biệt, miễn là có tình cảm con người chân chính với nụ cười tình cảm chân thành của con người.

Lòng từ bi là điều tuyệt vời và quý giá nhất. Khi chúng ta nói về lòng từ bi, tôi tin rằng bản chất cơ bản của con người là từ bi và tế nhị. Ví dụ, một nhà khoa học đã nói với tôi rằng vài tuần đầu tiên sau khi sinh là giai đoạn quan trọng nhất, vì trong thời gian đó, não của đứa trẻ mở rộng. Trong giai đoạn đó, sự tiếp xúc của người mẹ hoặc của một người nào đó đang cư xử giống như một người mẹ là rất quan trọng. Điều này cho thấy rằng mặc dù đứa trẻ có thể không nhận ra ai là ai, nhưng về mặt thể chất, nó vẫn cần tình cảm của người khác. Nếu không có điều đó, nó rất có hại cho sự phát triển lành mạnh của não bộ.

Khi chúng ta đến bệnh viện, không phân biệt chất lượng của bác sĩ, nếu bác sĩ thể hiện tình cảm chân thành và sự quan tâm sâu sắc đến chúng ta và nếu người ấy mỉm cười, thì chúng ta cảm thấy ổn. Nhưng nếu bác sĩ ít thể hiện tình cảm của con người, thì mặc dù người ấy có thể là một chuyên gia rất giỏi, thì chúng ta vẫn có thể cảm thấy không tự tin và lo sợ. Đây là bản chất của con người.

Trong giáo dục, theo tôi, những bài học mà chúng ta học được từ những người thầy không chỉ giỏi mà còn thể hiện tình cảm với học sinh sẽ đi sâu vào tâm trí chúng tôi. Bài học từ các giáo viên khác có thể không. Mặc dù bạn có thể bị bắt buộc phải học và có thể sợ giáo viên, nhưng bài học có thể không thấm vào đâu. Phần lớn phụ thuộc vào tình cảm từ giáo viên.

Khi chúng ta trẻ và đến khi chúng ta già, chúng ta lệ thuộc sâu xa vào tình cảm của người khác. Giữa những giai đoạn này chúng ta thường cảm thấy rằng chúng ta có thể làm mọi thứ mà không cần sự giúp đở của người khác và rằng tình cảm của người khá đơn giản là không quan trọng. Nhưng ở giai đoạn này thì tôi nghĩ rằng thật rất quan trọng để giữ tình cảm con người sâu xa.


PHẦN THỨ TƯ
CHO VÀ NHẬN

Một cách thiết thực để hướng đến tình yêu và lòng từ bi

 

Khi mọi người ở một thị trấn hay thành phố lớn cảm thấy cô đơn, điều này không có nghĩa là họ thiếu người đồng hành, mà là họ thiếu tình cảm của con người. Kết quả là sức khỏe tinh thần của họ cuối cùng trở nên rất kém. Mặt khác, những người lớn lên trong bầu không khí tình cảm của con người có sự phát triển nhẹ nhàng và tích cực hơn nhiều về cơ thể, tâm trí và hành vi của họ.

Trẻ em lớn lên thiếu một không khí tích cực thì thường có nhiều những thái độ tiêu cực hơn. Điều này rõ ràng cho thấy bản chất căn bản của con người. Cũng thế, như tôi đã từng đề cập, thân thể con người biết thưởng thức sự hòa bình của tâm hồn. Những thứ đang quấy rầy chúng ta có một ảnh hưởng rất tệ hại đối với sức khỏe của chúng ta. Điều này cho thấy rằng toàn bộ cấu trúc của sức khỏe chúng ta tương ứng với không khí của tình cảm con người. Do thế, năng lực của chúng ta cho lòng từ bi là ở đấy. Vấn đề duy nhất là chúng ta có nhận ra điều này và sử dụng nó hay không.

Mục tiêu căn bản của lời giải thích của tôi là để cho thấy rằng chúng ta vốn là từ bi, bản chất như thế, rằng lòng từ bi là điều gì đấy rất cần thiết và là điều gì đó mà chúng ta có thể phát triển. Thật quan trọng để biết chính xác ý nghĩa của lòng từ bi. Sự giải thích của Phật giáo là lòng từ bi đó căn cứ trên một sự chấp nhận hay nhận thức rõ ràng rằng những người khác như chính chúng ta, muốn hạnh phúc và có quyền để vượt thắng khổ đau. Trên căn bản đó, chúng ta phát triển một sự quan tâm nào đó về lợi ích của người khác, bất chấp thái độ của họ đối với chúng ta. Đó là lòng từ bi.

Tình yêu và lòng trắc ẩn của bạn đối với bạn bè trong nhiều trường hợp thật sự là dính mắc. Cảm giác này không dựa trên nhận thức rằng tất cả chúng sinh đều có quyền bình đẳng để được hạnh phúc và vượt qua đau khổ. Thay vào đó, nó dựa trên ý tưởng rằng thứ gì đó là ‘của tôi’, ‘bạn của tôi’ hoặc thứ gì đó tốt cho ‘tôi’. Đó là sự dính mắc. Do đó, khi thái độ của người đó đối với bạn thay đổi, cảm giác gần gũi của bạn sẽ ngay lập tức biến mất. Với cách khác, bạn phát triển một loại mối quan tâm nào đó không phân biệt, về thái độ của người khác đối với bạn, đơn giản bởi vì người đó là đồng loại và có mọi quyền để vượt qua đau khổ. Cho dù người đó  tuy trung lập với bạn hay thậm chí trở thành kẻ thù của bạn, thì mối quan tâm của bạn vẫn duy trì như vậy.

Lòng từ bi chân thành và sự dính mắc là mâu thuẩn với nhau. Theo sự thực hành của Phật giáo, để phát triển lòng từ binh chân thành thì chúng ta trước nhất cần phải thực hành thiền về bình đẳng và hành xả, tách riêng mình ra khỏi những người rất gần gũi với mình. Sau đó, thì chúng ta phải loại bỏ những cảm giác tiêu cực đối với những kẻ thù của chúng ta. Tất cả chúng sanh phải được nhìn như bình đẳng. Trên căn bản đó, thì chúng ta có thể dần dần phát triển lòng từ bi chân thành cho tất cả mọi người.

Như được nói rằng lòng từ bi chân thành không giống như sự thương hại hay một cảm giác rằng những người khá thế nào ấy là thấp hơn chúng ta. Đúng hơn, với lòng từ bi chân thành thì chúng ta nhìn những người khác quan trọng hơn chính mình.

Để phát sinh lòng từ bi chân thật, trước hết người ta phải trải qua quá trình rèn luyện tính bình đẳng. Điều này trở nên rất quan trọng vì nếu không có cảm giác bình đẳng đối với tất cả, cảm xúc của chúng ta đối với người khác sẽ bị thành kiến. Vì vậy, bây giờ tôi sẽ cung cấp cho bạn một ví dụ ngắn gọn về một khóa đào tạo thiền định của Phật giáo về việc phát triển tính bình đẳng. Trước tiên, bạn nên nghĩ về một nhóm nhỏ những người mà bạn biết, chẳng hạn như bạn bè và người thân của bạn, đối với những người mà bạn gắn bó. Thứ hai, bạn nên nghĩ về một số người mà bạn cảm thấy hoàn toàn thờ ơ. Và thứ ba, hãy nghĩ về một số người mà bạn không thích.

Một khi chúng ta đã tưởng tượng những người khác nhau này, thì chúng ta nên cố gắng để tâm thức chúng ta đi vào thể trạng tự nhiên và thấy vấn đề nó đáp ứng một cách bình thường như thế nào một khi chạm trán với những người này. Chúng ta sẽ thấy rằng sự phản ứng tự nhiên của chúng ta sẽ là dính mắc hay gắn bó với những người bạn của chúng ta, không thích những người chúng ta xem như là kẻ thù, và hoàn toàn dửng dưng đối với những người chúng ta xem như là trung tính hay người dưng. Rồi thì chúng ta hãy tự hỏi chính mình.

Bạn nên so sánh ảnh hưởng của hai thái độ đối lập mà bạn có đối với bạn bè và kẻ thù của mình, và xem tại sao bạn nên có trạng thái tâm trí dao động như vậy đối với hai nhóm người khác nhau này. Bạn nên xem những phản ứng như vậy có ảnh hưởng gì đến tâm trí của bạn và cố gắng xem sự vô ích của việc liên quan đến chúng theo cách cực đoan như vậy.

Chúng ta đã thảo luận về những ưu và nhược điểm của việc chấp chứa sự thù oán và việc phát sinh sân hận đối với những kẻ thù, và tôi cũng đã  nói một ít về những khuyết điểm của việc cực kỳ dính mắc đối với những người thân và v.v…Quý vị nên phản chiếu về điều này và sau đó cố gắng để giảm thiểu tối đa những cảm xúc mạnh mẽ đối với những nhóm người đối lập này. Sau đó điều quan trọng nhất là quý vị nên phản chiếu về nền tảng căn bản giữa chính mình và tất cả những chúng sanh khác.

Giống như quý vị có khát vọng bẩm sinh tự nhiên để hạnh phúc và vượt thắng khổ đau, thì tất cả những chúng sanh khác cũng như chính ta có quyền để đáp ứng nguyện vọng bẩm sinh này, tất cả những chúng sanh khác cũng vậy. Vậy thì trên căn bản chính xác nào chúng ta lại phân biệt?

Nếu nhìn tổng thể loài người, chúng ta là động vật xã hội. Hơn nữa, cấu trúc của nền kinh tế, giáo dục hiện đại, v.v., cho thấy rằng thế giới đã trở thành một nơi nhỏ hơn và chúng ta phụ thuộc nhiều vào nhau. Trong hoàn cảnh như vậy, tôi nghĩ lựa chọn duy nhất là sống và làm việc với nhau một cách hài hòa và giữ trong tâm trí của chúng ta sự quan tâm đến toàn thể nhân loại. Đó là cách nhìn và cách duy nhất mà chúng ta phải áp dụng để tồn tại.

Về bản chất, đặc biệt là một con người, sở thích của tôi không độc lập với người khác. Hạnh phúc của tôi phụ thuộc vào hạnh phúc của người khác. Vì vậy, khi tôi nhìn thấy những người hạnh phúc, tự động tôi cũng cảm thấy hạnh phúc hơn một chút so với khi tôi nhìn thấy những người trong hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ, khi chúng ta nhìn thấy những bức ảnh trên truyền hình cho thấy những người chết đói ở Somalia, bao gồm cả người già và trẻ nhỏ thì chúng ta sẽ tự động cảm thấy buồn, bất kể nỗi buồn đó có thể dẫn đến một sự giúp đỡ tích cực nào đó hay không.

Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, bây giờ chúng ta sử dụng nhiều tiện nghi tốt đẹp, kể cả những thứ như máy điều hòa không khí. Tất cả những thứ hay tiện nghi này thực tế không phải do bởi chính chúng ta nhưng do bởi sự liên hệ trực tiếp hay gián tiếp của những người khác. Mọi thứ phối hợp với nhau. Thật không thể trở lại cung cách sống của một vài thế kỷ trước khi chúng ta chỉ lệ thuộc vào những khí cụ đơn giản chứ không phải là tất cả những thứ máy móc này. Rất rõ ràng đối với chúng ta rằng những tiện nghi mà chúng ta đang thụ hưởng bây giờ là sản phẩm của các hoạt động của rất nhiều người.

Vì tất cả chúng ta đều có quyền bình đẳng để được hạnh phúc và vì tất cả chúng ta đều liên kết với nhau, bất kể một cá nhân quan trọng như thế nào, về mặt logic, lợi ích của năm tỷ người khác trên hành tinh này quan trọng hơn lợi ích của một người. Bằng cách suy nghĩ theo những hướng này, cuối cùng bạn có thể phát triển ý thức về trách nhiệm toàn cầu. Các vấn đề môi trường hiện đại, chẳng hạn như sự suy giảm của tầng ôzôn, cũng cho chúng ta thấy rõ sự cần thiết của sự hợp tác của thế giới. Dường như cùng với sự phát triển, cả thế giới đã trở nên nhỏ bé hơn rất nhiều, nhưng ý thức của con người thì vẫn còn tụt hậu.

Thái độ rộng rãi hơn hay vị tha hơn là rất liên hệ với thế giới ngày nay. Nếu chúng ta nhìn vào hoàn cảnh từ những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như sự phức tạp và liên kết nội tại bản chất của sự tồn tại hiện đại, rồi thì chúng ta sẽ dần dần chú ý một sự thay đổi trong quan điểm của chúng ta, vì thế khi chúng ta nói ‘những người khác’ và khi chúng ta nghĩ về ‘những người khác’, thì chúng ta không còn phủ nhận họ như điều gì đó không liên hệ với chúng ta. Chúng ta sẽ không còn cảm thấy dửng dưng.

Nếu bạn chỉ nghĩ đến bản thân, nếu bạn quên đi quyền lợi và hạnh phúc của người khác, hoặc tệ hơn nữa, nếu bạn bóc lột người khác, thì cuối cùng bạn sẽ thất bại. Bạn sẽ không có người bạn nào thể hiện sự quan tâm đến sự cát tường của bạn. Hơn nữa, nếu một bi kịch ập đến với bạn, thay vì cảm thấy được quan tâm, những người khác thậm chí có thể thầm vui mừng. Ngược lại, nếu một cá nhân có lòng từ ái, vị tha và luôn quan tâm đến lợi ích của người khác, thì dù người đó có quen biết nhiều người, nhưng khi đi đến đâu, người đó cũng sẽ lập tức kết bạn với người khác. Và khi người đó gặp phải bi kịch, sẽ có rất nhiều người đến giúp đỡ.

Một tình bạn chân chính phát triển trên cơ sở tình cảm của con người chứ không phải tiền bạc hay quyền lực. Tất nhiên, do quyền lực hoặc sự giàu có của bạn, nhiều người có thể tiếp cận bạn với nụ cười tươi hoặc quà tặng. Nhưng trong sâu thẳm đây không phải là những người bạn thực sự của bạn; đây là những người bạn của sự giàu có hoặc quyền lực của bạn. Chừng nào tài sản của bạn vẫn còn, thì những người này sẽ thường xuyên tiếp cận bạn. Nhưng khi vận may của bạn suy giảm, chúng sẽ không còn ở đó nữa. Với kiểu bạn này, sẽ không ai chân thành giúp bạn nếu bạn cần. Đó là thực tế.

Tình bạn chân chính của con người là trên cơ sở tình cảm của con người, không phân biệt địa vị của bạn. Do đó, bạn càng tỏ ra quan tâm đến phúc lợi và quyền lợi của người khác, bạn càng là một người bạn chân chính. Bạn càng cởi mở và chân thành, thì cuối cùng sẽ có nhiều lợi ích hơn đến với bạn. Nếu bạn quên hoặc không bận tâm về người khác, thì cuối cùng bạn sẽ đánh mất lợi ích của chính mình.

Có những ảnh hưởng tích cực đa dạng của việc tăng cường cảm giác của chúng ta về lòng từ bi. Một trong những cách đó là năng lực của lòng từ bi của chúng ta càng lớn, thì sự uyển chuyển bền bỉ của chúng ta càng lớn khi đối diện với những khó khăn và cũng như năng lực của chúng ta để chuyển hóa chúng thành những điều kiện tích hơn.

Một hình thức thực hành có vẻ khá hiệu quả trong việc nâng cao lòng từ bi được tìm thấy trong Hướng Dẫn Về Cách Sống Của Bồ Tát, một văn bản kinh điển của Phật giáo. Trong thực hành này, bạn hình dung con người cũ của bạn, hiện thân của tính tự cao tự đại, ích kỷ, v.v., và sau đó hình dung một nhóm người đại diện cho những chúng sanh khác. Sau đó, bạn chấp nhận quan điểm của người thứ ba như một người quan sát trung lập, không thiên vị và đưa ra đánh giá so sánh về giá trị, lợi ích và sau đó là tầm quan trọng của hai nhóm này. Bạn sẽ tự nhiên bắt đầu cảm thấy nghiêng về vô số người khác.

Tôi cũng nghĩ rằng năng lực thái độ vị tha của chúng ta đối với chúng sanh càng mạnh, thì chúng ta càng trở nên can đảm hơn. Chúng ta càng can đảm thì càng ít bị nản lòng và mất hy vọng. Do thế, lòng từ bi cũng là một cội nguồn của sức mạnh nội tại.

Với sức mạnh nội tâm được gia tăng, bạn có thể phát triển lòng quyết tâm vững vàng và nếu có quyết tâm thì cơ hội thành công sẽ cao hơn, bất kể có thể có trở ngại gì. Ngược lại, nếu bạn cảm thấy do dự, sợ hãi và thiếu tự tin thì thường bạn sẽ nảy sinh thái độ bi quan. Tôi coi đó là mầm mống thật sự của thất bại. Vì vậy, ngay cả theo nghĩa thông thường, lòng trắc ẩn hay từ bi là rất quan trọng cho một tương lai thành công.

Đã quán chiếu trên những sai lầm của một cung cách suy nghĩ và lối sống vị kỷ, và cũng đã quán chiếu trên những hậu quả tích cực của việc chánh niệm về sự cát tường của những chúng sanh khác và làm việc cho lợi ích của chúng sanh và tự tin về điều này rồi thì trong việc hành thiền của Phật giáo có một chủ đề đặc biệt được gọi là ‘sự thực hành Cho và Nhận.’ Việc sử dụng quán tưởng, một cách căn bản liên hệ đến việc nhận vào chính mình tất cả những kinh nghiệm đau đớn khổ sở, tiêu cực và không muốn của những chúng sanh khác.

Bạn tưởng tượng sẽ tự mình gánh lấy nỗi đau khổ này và sau đó cho đi hoặc chia sẻ với người khác những phẩm chất tích cực của bản thân, chẳng hạn như trạng thái tâm hồn đức hạnh, năng lượng tích cực, sự giàu có, hạnh phúc của bạn, v.v. Một hình thức đào tạo như vậy, về mặt tâm lý mang lại sự chuyển hóa trong tâm trí của bạn một cách hiệu quả đến mức cảm giác yêu thương và lòng từ bi trắc ẩn của bạn được nâng cao hơn nhiều.

Một điều bạn nên nhớ là việc chuyển hóa tinh thần cần có thời gian và không hề dễ dàng. Tôi nghĩ một số người đến từ phương Tây, nơi công nghệ quá tốt, nghĩ rằng mọi thứ đều tự động. Bạn không nên mong đợi sự biến đổi tâm linh này diễn ra trong một thời gian ngắn; Đó là điều không thể. Hãy ghi nhớ nó và nỗ lực không ngừng, rồi sau 1 năm, 5 năm, 10 năm, 15 năm nữa, cuối cùng bạn sẽ thấy sự thay đổi nào đó. Đôi khi tôi vẫn cảm thấy rất khó để thực hành những điều này. Tuy nhiên, tôi thật sự tin rằng những thực hành này cực kỳ hữu ích.

Câu trích dẫn từ sách của Tịch Thiên mà tôi thích nhất là:
‘Khi không gian vẫn còn tồn tại,
Khi chúng sanh vẫn còn hiện hữu,
Cho đến lúc đó, tôi nguyện vẫn hiện diện
Để xua tan khổ đau của trần thế.’


Ẩn Tâm Lộ, Tuesday, October 5, 2021

Hiển thị thêm
Back to top button