Tiểu sử & Công hạnhLịch sửTiêu điểm

Tiểu sử Đại lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN

DANH HIỆU

Về phương diện tôn vinh và nhiệm mệnh thực tế, Cố Đại Lão Hòa Thượng Tịnh Khiết là vị Đệ Nhất Tăng Thống của Phật Giáo Việt Nam. Danh vị của Ngài chẳng phải do triều đình hay chính quyền sắc phong mà là do chính đại diện của toàn thể Tăng, tín đồ Nam, Bắc tông của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suy tôn. Có thể nói ngôi vị Tăng Thống của Ngài chính là do công quả đức hạnh và lòng tận tụy một đời của Ngài với đạo với đời vậy.

THÂN THẾ

Ngài tên thật là NGUYỄN VĂN KỈNH, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân-mão (1891) tại làng Dưỡng Mong Thượng, xã Phú mỹ, quận Phú vang, tỉnh Thừa thiên, con trai thứ 3 của cụ NGUYỄN VĂN TOÁN và bà TÔN NỮ THỊ LÝ.

ẤU THỜI

Năm lên chín tuổi, Ngài bắt đầu theo học chữ nho. Với tư chất thông minh, chẳng bao lâu Ngài đã tinh thông những bộ sách căn bản của nho học. Nhưng có lẽ do túc duyên nhiều đời, chí xuất trần đã sẵn, nên sau sáu năm sách đèn theo Khổng Học, Ngài quyết chí xin Song Thân được cùng người anh ruột xuất gia tu học tại chùa Tường Vân, làng Dương Xuân Hạ, quận Hương thủy, tỉnh Thừa thiên, thụ giáo Ngài Thanh Thái (dòng Thiền Lâm Tế) đệ tam tổ chùa Tường Vân, Ngài được Tổ nhận làm đệ tử ban pháp danh là (thượng) Trừng (hạ) Thông, tự Chơn Thường.

THỜI GIAN TU HỌC

Sau 3 năm, Ngài đã học xong chương trình trung đẳng Phật Học. Mặc dù trong thời gian mới nhập đạo này, đúng theo truyền thống Thiền tông, Ngài phải chấp tác nặng nhọc, ngoài việc học hành kinh kệ.

Vốn bẩm tính thông minh, sẵn có một đạo phong uy nghi từ lúc hãy còn nhỏ tuổi, nên Ngài rất được các bạn đồng tu kính nể. Cũng do tư chất đặc biệt xuất chúng ấy, mà Ngài đã được đặc cách miễn tuổi để thụ tam đàn cụ túc vào năm 19 tuổi, chỉ 3 tháng sau khi thụ Sa-di giới. Đại giới đàn này do Ngài Vinh Gia làm Đàn đầu, Ngài Tâm Truyền làm Yết Ma và Ngài Hoằng Phú làm Giáo thụ. Sau khi thụ cụ túc giới trở về chùa, Ngài phát tâm lạy bộ vạn Phật nhất tự nhất bái suốt ba năm liền. Và đến năm 23 tuổi thì song thân Ngài từ trần cùng một lượt, ứng theo một lời nguyện khi sinh tiền của hai Cụ, là được vãng sinh cùng một lúc.

CÔNG NGHIỆP HOẰNG PHÁP

Năm 26 tuổi, Ngài được bổ xứ Trụ Trì chùa Phước Huệ là chùa của Tuy Lý Vương lập cho một vị công tôn xuất gia tại Vỹ dạ. Năm 30 tuổi Ngài đắc pháp, hiệu là tổ thứ 42 của Thiền phái Lâm Tế Trung phần hiệu Tịnh Khiết với Nghiệp sư là Hòa thượng Phước Chỉ và được truyền một bài kệ như sau:

Trừng thông tâm pháp bản đồng nhiên
Phó như chơn thường đạo chí kiên
Phi hữu phi vô phi sở kiến
Tịch nhiên khai ngộ chủ nhân tiền

Năm 32 tuổi, Ngài trở về Tổ đình cư tang Nghiệp sư viên tịch. Sau đó, Ngài theo học lớp Cao Đẳng Phật Học với Hòa Thượng Huệ Pháp chùa Thiên Hưng, Ngài Phước Huệ chùa Thập tháp, tham cứu kinh điển Đại thừa suốt thời gian 5 năm. Năm 42 tuổi, Ngài làm dẫn thỉnh sư tại đại giới đàn Từ Hiếu. Năm 44 tuổi, Ngài trở về trụ trì chùa Tường Vân, kế vị Hòa Thượng Tịnh Hạnh là anh ruột Ngài vừa viên tịch. Năm 1938 Ngài làm Chứng minh Đạo sư sáng lập An Nam Phật Học hội. Năm 1940 Ngài làm Giám đốc Đạo hạnh, Cao đẳng Phật Học viện mở tại Tổ đình Tường Vân và Báo Quốc, có những Tăng sinh về sau trở thành những bậc pháp khí như cố HT Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, HT Hành Trụ, TT Trí Tịnh, TT Thiện Siêu, TT Thiện Minh, TT Trí Quang… Năm 1944, Ngài làm Yết Ma đại giới đàn mở tại Tổ đình Thuyền Tôn. Năm Ất Dậu (1945), Ngài phó pháp cho Pháp tử Pháp danh Tâm Ân, tự Vĩnh Thừa, hiệu Viên Quang kế vì tứ thập tam thế. Trong dịp này, Ngài ban cho 6 đệ tử đắc pháp bài kệ dưới đây:

Tâm ấn viên minh ngộ đạo tiên
Tham thuyền liễu đạt thấu chơn nguyên
Niên hoa phó nhử như lai tạng
Tục diệm huệ đăng vạn cổ truyền

Năm 1947, Ngài thụ phong chức vị Tùng Lâm Pháp chủ Trung Việt. Năm 1948, Ngài làm đàn đầu Hòa thượng cho đại giới đàn Báo Quốc và năm 1950 thì được suy tôn chức vị Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt nam. Năm 1951, Ngài ra Bắc chủ tọa Đại hội Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc tại chùa Quán sứ, Hà nội. Năm 1952, Ngài trở vào Nam chủ tọa lễ truy phong Pháp Chủ Phật giáo Nam Việt tại chùa Ấn Quang. Năm 1955, Ngài tham dự đại hội Phật giáo Thế giới tại Tích lan và chiêm bái Phật tích tại Ấn độ. Trong cuộc hành hương này Ngài có cảm tác hại bài kệ chữ nho.

Nguyên văn như sau:

Đạp tuyết phong vân quá hải hà.
Du du hốt kiến lâu đài đa
Bảo tháp thất từng kim tú lệ.
Bồ-Đề thiên trượng ngọc bích hoa
Cảnh tối thâm u tần đáo tự
Duy thường ái tịch niệm Thích Ca
Nhân duyên Bồ-Tát khai phương tiện
Nhiếp tận chúng sinh lễ Phật Đà

Lâm quang tịnh mậu trước thi biên
Phật quốc ký du hữu đại duyên
Tận địa kim ngân triệt vũ trụ.
Thanh phong châu ngọc mãn nhân gian
Bồ đề thành đạo trang nghiêm cảnh
Lộc uyển sơ niên chuyển pháp tiên
Ấn Độ hoa khai chân tịnh xứ
Kỳ viên trùng kiến tợ thiền thiên.

CUỘC VẬN ĐỘNG CHO TỰ DO TÍN NGƯỠNG,
CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ KÊU GỌI HÒA BÌNH

Ngày 20 tháng 2 năm 1962, Ngài ký cùng một lúc 2 văn thư gửi tổng thống Ngô đình Diệm và Quốc hội để phản đối sự kỳ thị tôn giáo, nhất là vụ đàn áp Phật tử tại Cao nguyên Trung nguyên Trung phần. Ngày 20-8-1963, khi chính quyền Ngô đình Diệm cho bắt giữ tù đày Tăng ni Phật tử, Ngài từng chia sẻ số phận với Phật giáo đồ trong cuộc vận động chống đàn áp và kỳ thị tôn giáo. Chính đêm pháp nạn 20-8-63, Ngài đã cùng với Tăng ni Phật tử toàn quốc chịu đựng sự đàn áp khốc liệt đến phải bị thương tích. Mặc dù gặp nhiều áp lực tâm lý và chính trị từ phía chính quyền suốt trong thời gian bị an trí, Ngài vẫn cương quyết giữ vững chủ trương từ bi bất bạo động.

Qua năm 1964, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập, toàn thể hội nghị đã cung thỉnh Ngài lên ngôi vị Tăng Thống. Tuy tuổi già sức yếu, và đã quen nếp sống thanh tịnh nơi Tổ đình Tường Vân, đức Tăng Thống vì hạnh nguyện lợi tha đã không quản ngại rời Tổ đình vào Sài Gòn trú tại chùa Ấn Quang, trụ sở tạm của Giáo Hội, để chu toàn Phật sự.

Trong những năm kế tiếp khi chiến cuộc Việt nam lên cao độ, gây chết chóc điêu linh cho hằng triệu người dân, Ngài không ngớt kêu gọi hòa bình. Trong bức thông điệp gởi Hội nghị Quốc tế về tôn giáo và hòa bình vào tháng 10-1970, Ngài khẳng định: “Chỉ có hòa bình mới cứu được nhân loại trong cơn khủng hoảng hiện nay. Chỉ có hòa bình mới đem lại sự cảm thông, sự tương thân tương ái, sự thi đua phát triển đạo lý giữa các đại tiểu quốc, cũng như các giai tầng xã hội. Chỉ có hòa bình mới đem lại cho con người vận dụng sức mạnh khoa học, kỹ thuật để phụng sự tốt đẹp con người”. Với các thế lực quốc tế đang điều động chiến cuộc tàn khốc tại Việt nam, Ngài khẩn thiết kêu gọi lương tri và tình nhân loại: “Tôi kêu gọi Hoa kỳ, Liên sô, Trung quốc, 3 đại cường đang ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc chiến ở Việt nam và đang cung cấp vũ khí cho các phe đối chiến, hãy vì sự an nguy của thế giới, vì sự diệt chủng của một dân tộc mà tìm sự thỏa hiệp với nhau để ngừng cung cấp chiến cụ vào Việt nam, rồi dùng thế lực của mình mà sớm kết thúc cuộc chiến ở Việt nam đi. Tôi kêu gọi toàn thể thế giới, nhất là tổ chức Liên hiệp quốc, hãy tích cực hơn nữa trong công cuộc vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt nam, để tạo sự quân bình cho thế giới”. (Thông điệp Phật đản 2516). Với chính quyền hai miền Nam Bắc Việt nam thì Ngài kêu gọi đến lương tri và tình dân tộc: “Chúng tôi kêu gọi chính phủ của 2 miền Nam Bắc Việt nam và các thế lực quốc tế có liên hệ tới cuộc chiến tranh Việt nam, hãy ngưng những cuộc bắn giết dân chúng Việt nam, hãy ngưng việc xô đẩy nhân dân Việt nam vào vòng chiến tranh một cách cưỡng bách, ngụy trang dưới hình thức pháp lý hoặc lý tưởng này nọ. Xin hãy thành thật dùng đường lối NGOẠI GIAO HÒA BÌNH để sớm giải quyết vấn đề chiến tranh Việt nam, mà cơ hội đã mở ra tại hòa hội Paris”. (Lời kêu gọi ngưng bắn ngày 20-6-68). Với quần chúng Phật tử nói riêng và nhân dân Việt nam nói chung, Ngài kêu gọi tới sự sáng suốt chủ động. Trong Thông điệp đầu năm Canh tuất, Ngài nhắn nhủ: “Con người hãy dùng trí huệ để đãi lọc, lựa chọn và dung hóa các luồng tư tưởng, các đường hướng chính trị đang ảnh hưởng tới chính mình, để không làm nô lệ mà cốt vận dụng chúng, vận dụng những điều tốt đẹp lợi ích của chúng vào công việc phục vụ con người, dân tộc và nhân loại. Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào Việt nam hãy sáng suốt để tự cứu mình và cứu dân tộc. Sự chia rẽ tôn giáo, đảng phái, địa phương, là mối nguy lớn làm tê liệt dân tộc ta, làm cho chúng ta mất chủ quyền và mất ánh sáng. Phải nhìn nhận rằng, nếu các thế lực bên ngoài có thể nhúng tay vào nội tình Việt nam, phần lớn lỗi ở chúng ta không biết thương nhau, không biết tới sự sống đích thực và kiêu hùng của dân tộc mà chỉ biết nghĩ tới quyền lợi và tự ái riêng tư”. (Thông điệp đầu xuân 1968).

CHỦ TRƯƠNG HÓA GIẢI

Để trở về với truyền thống dân tộc và hóa giải hận thù, Ngài tha thiết kêu gọi người Việt hãy đề cao Sức Mạnh Hóa Giải: “Lịch sử đã chứng minh: Dân tộc Việt nam có sức hóa giải bền bỉ phi thường. Sức hóa giải đó là bản chất dân tộc và cũng chính là bản chất Phật Giáo. Vì Phật Giáo được xây dựng trên tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ và Hùng Lực, Việt nam vượt qua được những giai đoạn bị đồng hóa là nhờ ở đức bao dung, sự đãi lọc và lòng kiên trì phát triển: Chính nhờ ở những căn bản quí giá đó mà đã hơn một lần Phật giáo trợ duyên cho dân tộc hóa giải nổi những lối sống xuất thể và nhập thể của các luồng tư tưởng đông phương, tạo ra sự quân bình tư tưởng cho Việt nam dưới thời tự chủ Lý-Trần, kéo dài trên 3 thế kỷ”. (Thông điệp SỨ MỆNH HÒA BÌNH nhân dịp Phật Đản 2513). Song song với việc kêu gọi hòa bình, Ngài không quên khuyến cáo các Phật tử hãy sáng suốt, đừng để cho bất cứ phe phái nào đang lợi dụng chiêu bài hòa bình khuynh loát. Ngài nhắc nhở Phật giáo đồ ý thức trách nhiệm mình đối với dân tộc, và kêu gọi tinh thần tự giác: “Phật giáo, một tôn giáo lớn tại Việt nam, bao giờ cũng chiếm tới đại đa số dân chúng trong nước. Do đây, vai trò Phật giáo lúc này thật hết sức quan trọng. Chúng ta phải noi gương Tiền nhân mà đảm nhận sứ mạng QUY TỤ SỨC MẠNH DÂN TỘC để hóa giải những xung đột nội tại Quốc gia, bằng không, tất phải bị dồn vào vị thế phân hóa”. (Thông điệp Xuân Quý Sửu). Để thực hiện công cuộc Hóa Giải ấy, Ngài nhắn nhủ Phật giáo đồ hãy nhớ đến truyền thống bất khuất của dân tộc, để tăng thêm niềm tin, vững thêm nghị lực: “Trong dòng sinh mệnh Việt nam, dân tộc này đã trường kỳ kiên nhẫn hóa giải mọi ý hệ xung đột ngoại nhập, đế bồi đắp và làm sáng, làm mới cho nền văn hóa Việt, thì đến nay chúng ta cũng không thể làm khác được những gì lịch sử đã làm. Chúng ta cần đề kháng những ý hệ ngoại nhập, nhưng không phải như thế là để phủ nhận toàn bộ, mà là đãi lọc lấy tinh túy của tất cả, dung hóa tất cả, biến tất cả thành chất liệu bồi dưỡng cho tinh thần Việt nam”. (Thông điệp Xuân Nhâm tý). Trước nỗi thống khổ lan tràn Ngài thống thiết kêu gọi những người con dân Việt đừng gây khổ cho nhau: “Cuộc đời hiện hữu là một biển khổ mênh mông, tôi xin tất cả chúng ta, đừng bao giờ làm khổ mình, làm khổ thân quyến, làm khổ đồng loại, làm khổ chúng sinh – Vì tất cả đều đáng thương, đều cần phải sống xứng đáng cho trọn kiếp người, tất cả đều đáng tôn trọng và cần được phụng sự”. (Thông điệp Ý LỰC TỰ GIÁC đầu Xuân Quý sửu). Cuối cùng, Ngài không quên nhắc nhở Phật giáo đồ cũng như Tăng Ni hãy bắt đầu từ bản thân, bằng cách sống đúng theo giới luật, thực hiện hạnh từ bi cứu khổ song song với việc tu niệm nguyện cầu cho hòa bình đích thực sớm trở về.

NHIẾP HÓA ĐỒ CHÚNG

Mặc dù công việc đối ngoại của Giáo Hội đa đoan, Ngài vẫn không bao giờ xao lãng việc nhiếp hóa đồ chúng tùy căn cơ trình độ. Trong một mùa an cư, Ngài đã gởi đến quí vị đại đức tăng ni những lời huấn dụ như sau: “Đạo Phật tồn tại không chỉ y cứ vào những hình thức chùa tháp, lễ nghi, kinh điển – mặc dù kinh điển là kim chỉ nam hướng dẫn ta trên đường đi tới đạo quả vô thượng Bồ đề. Nhưng sự tồn tại đích thực chính là sự thể hiện đạo phong, những nếp sống gương mẫu của các bậc tăng già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ chính pháp để chính Pháp mãi mãi tồn tại với con người, cuộc đời và làm lợi ích cho chúng sinh”. Và có lần Ngài gửi huấn dụ cho một đệ tử ở hải ngoại: “Vạn vật biến chuyển không ngừng, dục vọng con người khởi diệt thế nào con đã rõ. Bên trong thì tâm niệm sát na vô thường, bên ngoài thì thanh sắc quyến rũ mãnh liệt, trong không chỗ nương, ngoài không chỗ tựa, bậc trượng phu giữa đời lại hiếm có, tự mình dễ cảm thấy lẻ loi. Nếu không phải là người nuôi chí xuất trần, quyết lánh vọng tìm chân, thì thật khó bảo toàn chí nguyện sơ tâm vậy”. Đối với những đồ đệ được diễm phúc sống gần gũi bên Ngài đều cảm nhận. Ngài là hiện thân của một “Bài thuyết pháp hùng vĩ linh động” qua đạo phong cốt cách, qua những lời giáo huấn vàng ngọc đề cao trí tuệ và đức tự chủ tự giác. Ngài luôn luôn khuyến khích sự học hỏi Phật pháp cũng như thế gian pháp, nhưng đồng thời Ngài vẫn thường khuyên các môn đệ đừng rơi vào cạm bẫy của tri thức suông. Trong việc tu trì, Ngài khuyên đệ tử hãy luôn luôn nhiếp tâm chánh niệm trong bốn uy nghi vào tất cả các thời và phải tự chủ đối với pháp môn tu tập, chớ để bị pháp chuyển. Ngài khuyên môn đệ sau mỗi thời tụng kinh, lễ bái hay niệm Phật, nên tập ngồi thiền, để tâm an trụ ở chỗ vắng lặng, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đừng mãi bám víu vào một câu trì chú hay niệm Phật. Ngài thường khuyên dạy bằng một lời vắn tắt: “Gắng tự làm chủ lấy”. Đối với những Phật tử tại gia phải gánh vác nhiều bổn phận, Ngài khuyên một phương pháp giản dị: mỗi tối trước khi ngủ, hãy ngồi thẳng trên giường, chí thành thu thiết niệm thong thả 10 lần câu hồng danh NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT. Trong những năm sau này, khi một số đông Tăng Ni còn sơ cơ phải ra làm công tác xã hội thực thi hành cứu khổ, Ngài không ngừng khuyên hãy thận trọng gìn giữ sơ tâm, nghiêm trì giới luật. Ngài nhấn mạnh phương châm “Tùy duyên bất biến” và khuyên đệ tử đừng bao giờ lợi dụng địa vị, tuổi trẻ, chức phận mà dễ dãi với bản thân và làm những chuyện phương hại đến đạo nghiệp. Trong những năm gần đây, khi tuổi đã già, sức đã kiệt. Ngài thường dạy đệ tử: “Trước, ta dạy các con bằng lời nói, có khi bằng roi gậy, nhưng nay thì ta dạy bằng sự im lặng”. Ai đã từng có duyên lành hầu cận Ngài, đều phải công nhận Ngài có một uy nghi hùng vĩ trong tất cả các thời. Mặc dù già yếu, Ngài luôn luôn ngồi thẳng người theo thể nhập định. Dáng đi oai vệ như sư tử chúa. Đôi tay dài quá gối buông thẳng khoan thai mỗi khi Ngài đi bách bộ. Đôi mắt luôn luôn nhìn thẳng uy nghiêm. Và đặc biệt, Ngài rất ít khi ngồi ở chỗ không phải chỗ ngồi thường nhật của Ngài trong tự viện. Thế nên chỗ Ngài ngồi trong Tổ đình Tường Vân đã trở thành một nơi thiêng liêng đối với Phật tử miền Trung. Dù cho Ngài phải xa xứ Huế trong nhiều năm, nhưng suốt thời gian này, và có lẽ mãi mãi từ đây, Phật tử nào bước chân đến Tổ đình cũng vẫn tự nhiên cúi đầu cung kính khi đi ngang qua pháp tòa của Ngài là bộ phản gỗ đơn sơ. Một làn hương không tên nhưng có thật, tỏa ra từ nơi thiêng liêng ấy, khiến mọi người phải cúi đầu úy phục, không dám bước mạnh nói lớn hay có những cử chỉ thiếu uy nghi hay ngay cả một tâm niệm bất chính. Làn hương đó có lẽ là di tích vô hình, vô thanh, vô hướng, nhưng linh động nhất của Ngài, đó là làn hương của Giới, Định, Tuệ làn hương của hạnh kham nhẫn, của đức giải thoát vô vi. Trong những tháng Ngài ngọa bệnh phải vào điều trị tại dưỡng đường Duy Tân và Sùng Chính, những lúc bệnh tình trầm trọng, đệ tử có thăm hỏi: “Bạch Cố, Cố có mệt lắm không?” thì Ngài trả lời: “Thân ta mệt, nhưng tâm ta thì không”. Hạnh giải thoát vô vi của Ngài biểu lộ trong đức tính “Tùy duyên nhiếp hóa”. Ngài không bao giờ tham cầu đệ tử hay nghĩ đến việc mở mang ngôi Tổ đình cho lớn rộng. Hình thức, nghi lễ không phải là mối quan tâm chính yếu của Ngài. Nhưng có lẽ do định luật y báo, chính báo không rời nhau, nên Ngài đến đâu thì trang nghiêm y báo, đồ chúng sum vầy, đông đúc, mừng vui như con thơ gặp lại mẹ hiền, như nắng hạn gặp cơn mưa lớn. Ngôi Tổ đình Tường Vân đã bao năm điêu tàn vì thời gian và chiến cuộc nhưng Ngài không bao giờ cho phép đồ đệ quyên góp trùng tu, vì cảm thông tình trạng kinh tế eo hẹp của Phật giáo đồ hiện tại. Mãi đến gần đây, trong thời gian Ngài xa Huế, một số đệ tử thân tín mới thi công tái thiết. Lễ khánh thành sắp tổ chức thì được tin Ngài tỏ ý mong trở về, và những căn rạp dựng lên cho cuộc khánh thành, than ôi, bây giờ lại được sử dụng cho tang lễ.

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

Mãi cho đến ngày rằm tháng 11 năm Nhâm tý, từ Sài gòn (lúc bấy giờ Ngài an trú tại Tu viện Quảng Hương Già lam, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm giám viện) Ngài quyết liệt bày tỏ ý muốn trở về Huế. Trong lúc Hội đồng lưỡng viện tới làm lễ tiễn đưa Ngài về Huế, Thượng tọa cố Viện trưởng Thích Thiện Hoa có bạch: “Xin cung thỉnh Đức Tăng Thống sau khi về thăm cố đô ít ngày, rồi xin Ngài trở lại thủ đô để lãnh đạo Giáo Hội”. Ngài nghiễm nhiên đáp: “Thôi, tôi không vô nữa”.

Sau khi trở về cố đô, Ngài lần lượt viếng thăm các Tổ đình Huế như Thuyền Tôn, Tây Thiên, Từ Đàm, Báo Quốc, Linh Quang, Quốc Ân, Kim Tiên .v.v… Không ngờ, lần viếng thăm này lại là lần vĩnh biệt cuối cùng! Trong dịp đầu Xuân Quý sửu, khi quý vị Thượng tọa Giáo hội Phật giáo Thừa thiên đến Tổ đình Tường Vân đảnh lễ chúc thọ đầu năm, dường như linh cảm trước sự ra về vĩnh viễn, Ngài đã ân cần phú chúc những lời huấn dụ hết sức cảm động: “TÔI THẤY SỨC KHỎE TÔI ĐÃ KÉM NHIỀU. TÔI KHUYÊN CÁC TĂNG NI PHẬT TỬ CỐ GẮNG LO VIỆC TU HÀNH ĐỂ BÁO ĐÁP CÔNG ƠN TAM BẢO, THƯƠNG MẾN MÀ ĐOÀN KẾT VỚI NHAU ĐỂ XÂY DỰNG GIÁO HỘI VÀ GÓP PHẦN VÀO NỀN HÒA BÌNH DÂN TỘC”. Ngài khuyên nhủ Tăng Ni cố gắng nghiêm trì giới luật để giữ gìn mối đạo và đừng bỏ rơi chúng sinh, thời mạt pháp.

Chỉ sau vài ngày pháp thể khiếm an, Ngài an tường xả báo thân vào lúc 20 giờ 45 phút ngày 23 tháng giêng năm Quý sửu (nhằm 25-12-1973).

Ngài không lưu lại bài kệ phú pháp nào, đúng theo một hạnh vô vi, song bài thơ của Ngài sau đây đủ nói lên tôn chỉ “Tự chủ, tự giác” của Ngài trong việc tu hành, khả dĩ làm chỉ nam cho môn đệ.

Pháp thân vô trọng diệc vô khinh
Chỉ vị đa sanh hoặc tập tành
Nhất niệm hồi quang tri lụy kiếp
Lục căn thanh tịnh liễu tâm kinh
Ưng tiêu vọng tưởng chơn vô ngã
Thỉ ngộ thuyền quang hiệp thế tình
Dục thám huyền vi công tự tỉnh
Hà lao hướng viện vấn thuyền huynh.

Tạm dịch:

Pháp thân không trọng cũng không khinh
Phân biệt do mê hoặc nghiệp thành
Một niệm hồi quang, lụy chương dứt
Sáu căn thanh tịnh, rõ tâm kinh
Nên tiêu vọng tưởng, chơn vô ngã
Mới biết đạo kia hiệp thể tình
Muôn ngộ là mầu, tâm tự tính
Ích chi đến việc hỏi thuyền huynh?

Ngài trụ thế 83 năm, hạ lạp 64. Việc tôn trí bảo tháp đã do một số Phật giáo đồ phụng lập tại khuôn viên Tổ đình Tường Vân. Và bài châm khắc trên tháp do cố Hòa thượng Qui Thiện trứ tác cho chư Tăng ở cố đô Huế tán thán công đức Ngài và Hòa thượng Tịnh Hạnh (anh Ngài) ví như Vô Trước và Thế Thân của thời mạt pháp.

Hương giang chi nguyệt
Sơn xuyên dục tú
Giác trần thị huyễn
Nghi huynh nghi đệ
Chấn khởi thuyền phong
Hóa mãn diêm phù
Vận án trường thiên
Huệ chúc từ phàm
Vi giáo hội chủ
Giáo lưu nam độ
Pháp hoằng gia vụ
Nghi doan biểu chính
Bổng xướng tùy nghi
Thanh tịnh nan danh
Phật pháp đồng lương
Tuyển Phật trang trung,
Xuân thành hậu tán
Vô nhi biểu thành
Nguyên thùy liên nhãn
Vinh phụng trần sát
Ngự linh chi vân
Đĩnh xuất Kỳ nhân
Duy đạo vi trân
Vô Trước Thiên Thân
Chiết phục tà thái
Kỳ huynh nan tái
Ba cuồng đại hải
Duy sư thị lại
Vi chúng trung tôn
Thục dự tỉ luân.
Đạo kế tông môn
Mục kích đạo tồn.
Nhân hàm kính ngưỡng
Ứng dụng vô lượng
Tông môn bảo chưởng
Lễ tôn Hòa thượng.
Cửu phụ đức âm
Kiền bị chuyết châm
Phủ giám quỳ thầm
Tương thử thâm tâm.

(Tạm dịch: Trăng sông Hương, mây núi Ngự, tinh anh sông núi khéo đúc nên bậc khác thường. Giác ngộ trần lao như huyễn, chí Đạo là qúi. Xứng huynh xứng đệ như Vô Trước, Thiên Thân. Chấn hưng thiền phong, chuyết phục tà thái. Hóa độ cõi Ta bà đã xong, thì anh Ngài về châu Phật. Than ôi! Mây phủ ngất trời, sóng gầm biển lớn. Đuốc tuệ thuyền từ chỉ còn Ngài làm chỗ cậy nương. Làm pháp chủ Giáo hội, bậc chúng trung tôn. Giáo pháp lưu truyền đất Nam, mấy ai sánh kịp. Xem việc hoằng pháp là việc nhà, nối tiếp đạo thống tông môn. Hình nghi đoan chánh, mắt trừng ánh đạo, đánh hét tùy cơ nghi. Người người kính ngưỡng. Thanh tịnh khó bàn, ứng dụng vô lượng, đống lương của Phật pháp, bình phong che chở tông môn. Trong trường tuyển Phật, suy tôn Hòa thượng. Kẻ hậu lai ở cố đô từ lâu nương nhờ âm đức, không biết lấy gì bày tỏ lòng thành, xin cung soạn bài châm vụng về này, ngưỡng mong Ngài hạ cố chứng giám lòng tinh thành, nguyện đem thâm tâm này vĩnh viễn phụng sự chúng sinh).

Ngoài ra, cụ Phan Bội Châu lúc sinh tiền là bạn tâm giao với Ngài có đề tặng bài thơ ca ngợi như sau:

Tiền thân chủng xuất tự Bồng lai
Di hướng Bồ-Đề viện lý tài
Tô nhụy quang tranh đồng dạ tuyết
Kỳ phương phẩm đoạt lãnh đầu mai
Hương chân vương giả thiên thùy thưởng
Trang tỉ thường nga nguyệt ám xai
Duy Phật tùng lai năng thức Phật
Ân cần huệ ngã thử hoa khôi.
(PHAN SÀO NAM)

Hòa thượng thể độ cho hơn 50 vị đệ tử xuất gia và vô số đệ tử tại gia. Trong hàng ngũ xuất gia, có nhiều vị đã ra hoằng dương chính pháp, tiếp nối hạnh nguyện lợi tha của Ngài như Thượng tọa Thích Chánh Pháp, Thượng tọa Thích Minh Châu, Đại đức Thích Chơn Thức vv… và một số Ni hữu danh trong Ni giới.

Phật Giáo Việt Nam đã chuyển mình và đứng ra nhận lãnh trọng trách của mình đối với dân, tộc. Phật Giáo Việt Nam đã có mặt trong mọi biến cố lịch sử với cương vị một tôn giáo dân tộc, một sức mạnh tín ngưỡng ái quốc. Dưới sự lãnh đạo trầm tĩnh và uy dũng của Ngài. Ngài không phải chỉ là một vì sao định hướng từ trời cao mà còn là một kẻ dấn thân để dẫn đạo và trực tiếp vạch đường lối dấn thân. Ngài đã lái con thuyền đạo pháp qua bao cơn phong ba bão táp của lịch sử, bên trong thì chân chính tông môn, bên ngoài thì vận động hóa giải những thế lực thù nghịch để mưu cầu hòa bình cho đất nước và nhân loại.

Vì sao đó hôm nay đã khuất bóng, nhưng ánh sáng vẫn còn và còn soi tỏ mãi cho hành trình thực hiện sứ mệnh cao cả Phật Giáo Việt Nam đối với lịch sử và nhân loại thời hiện đại: SỨ MỆNH HÓA GIẢI.


BẢN TIỂU SỬ ĐƯỢC THƯỢNG TỌA ĐỨC NHUẬN CHÁNH THƯ KÝ VIỆN TĂNG THỐNG
ĐỌC TRONG DỊP LỄ NHẬP THÁP CỦA NGÀI,
NGÀY MỒNG 5 THÁNG 2, NĂM QUÝ SỬU (9-3-73) TẠI CHÙA TỪ ĐÀM, HUẾ

Hiển thị thêm
Back to top button